Saturday, January 16, 2010

Đợi Người

0 comments

Đợi Người

Người đi môi đọng lời thề
Mưa trong chữ viết giọt tê tái hồn
Ngoài kia tuyết xuống hoàng hôn
Trong ta sương khói vây hồn đắng cay

Nguyện lời tay nhé cùng tay
Đón mưa che nắng ôm đầy ước mơ
Vầng trăng non dại ngây thơ
Hôm nay đầy đặn một bờ nhớ nhung

Vàng xưa nhắn với ai cùng
Nhạt nhòa quá khứ nghìn trùng tương lai
Thắp lên ánh nến đêm dài
Cho ta hiện tại sánh vai bước đầy

Ngọc lan tinh khiết thơ ngây
Hương trao ngà ngọc những ngày hồn nhiên
Chờ người yêu dấu bên hiên
Nghe như sân trước mẹ hiền bước chân

Người ơi người của hóa thân
Ta nghe nhẹ cả gót trần viễn du
Vô thường lá của mùa thu
Đục trong xin hẹn thiên thu cõi người


Cát Biển
1-Jan-2010


A-Nan, Vị Thị Giả Tận Tụy Của Đức Phật

1 comments

A-Nan, Vị Thị Giả Tận Tụy Của Đức Phật

Thích Tâm Hải

Tôn giả A Nan (Ananda) là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, người được mệnh danh là rất uyên thâm trong nhiều lĩnh vực và có trí nhớ siêu phàm (đa văn đệ nhất). Với những đức tính đặc biệt, tôn giả A Nan được đại chúng thời bấy giờ đề cử làm thị giả cho đức Phật và được đức Phật hoan hỷ chấp thuận. Tôn giả A Nan đã luôn theo sát đức Thế Tôn trong suốt hơn 25 năm cuối, luôn tận tụy trong việc chăm sóc đức Phật; ghi nhớ tất cả những gì mà đức Phật dạy bảo; luôn đem đến niềm an lạc cho mọi người, như chính ý nghĩa của tên Ngài -- Ananda: an lành và hạnh phúc.

A Nan sinh trưởng trong một gia đình truyền thống Kshatriya (chiến sĩ giai cấp nắm quyền hành thống trị đất nước Ấn Ðộ thời bấy giờ), con của vua Amitodana. Vua Amitodana là em ruột của vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương - phụ thân của đức Phật). Trong quan hệ dòng họ, A Nan là em chú bác ruột với đức Phật. Ngày đức Phật trở về Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) để thăm vua cha và thân quyến lần đầu tiên sau khi thành đạo, trong số vương tôn công tử ra nghinh đón Ngài có chàng trai trẻ thuộc dòng họ vua chúa -- Ananda, lập tức A Nan bị thu hút bởi cốt cách uy nghi và thanh cao của đức Phật. Sau đó, A Nan cùng với sáu vương tử khác đã đến xin đức Phật cho phép được gia nhập Tăng đoàn, đi theo con đường mà đức Thế Tôn đang đi.

Với trí thông minh có sẵn, sau khi trở thành một tu sĩ, Tôn giả A Nan đã tiếp thu giáo lý của đức Phật trọn vẹn như nước thấm vào cát. Nhân một hôm nghe Trưởng lão Punna thuyết pháp, Ngài chứng đắc được quả thánh Dự Lưu (Sotàpatti - Tu đà hoàn) -- cấp độ đầu tiên trong 4 cấp độ giải thoát (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).

Khi được đề cử làm thị giả của đức Phật, để tránh những dư luận không tốt có thể xảy ra, Tôn giả A Nan đã đệ trình lên tám điều kiện và được đức Thế Tôn chấp nhận:
1. Không mặc áo mà đức Phật cho, dù mới hay cũ;
2. Không dùng thực phẩm mà thiện tín dâng cúng đến đức Phật, dù đó là thức ăn thừa;
3. Không ở chung tịnh thất với đức Phật;
4. Không đi theo Phật đến bất luận nơi nào mà thiện tín chỉ cung thỉnh Phật;
5. Ðức Phật hoan hỷ cùng đi với Tôn giả đến nơi mà Tôn giả được mời;
6. Ðược quyền sắp xếp, tiến cử những vị khách đến muốn gặp đức Phật;
7. Ðược phép hỏi đức Phật mỗi khi có hoài nghi phát sinh;
8. Ðức Phật hoan hỷ nói lại những bài pháp mà Ngài đã giảng khi không có mặt Tôn giả.

Và kể từ khi trở thành một thị giả trong suốt hơn hai mươi lăm năm, Tôn giả A Nan đã tận tụy, trung tín, cần mẫn với lòng kính mộ không hề suy suyển việc chăm sóc đức Thế Tôn, đặc biệt là trong những lúc thân thể đức Phật có bệnh và những năm đức Phật cao tuổi mà bước chân không ngừng du hóa bốn phương.

Là một thị giả của đức Phật và là một người uyên bác, có trí nhớ siêu phàm, ngoại hình khôi ngô tuấn tú, được rất nhiều người, đặc biệt là phái nữ ái mộ, song Tôn giả A Nam đã không lấy điều đó làm kiêu hãnh, Ngài luôn khiêm cung, sống phạm hạnh và tận tụy với đức Phật trong vai trò của một thị giả. Câu chuyện cô gái Pakati của dòng họ Matànga (Ma Ðăng Già) và nhiều chi tiết sinh động được ghi lại trong kinh điển đã nói lên điều đó.

Tuy là một người rất mực thông minh, nhạy cảm và có một trí nhớ chính xác, mạnh lạc như thế, nhưng tôn giả A Nan chưa phải là một vị A la hán -- bậc đã hoàn toàn giải thoát, nên khi nghe đức Phật cho biết chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ nhập diệt, Tôn giả buồn đau vô cùng. Ký ức về những ngày tháng theo sát bên đức Phật, những hành động, cử chỉ đầy tình thương yêu vô biên và những lời dạy đầy trí tuệ của Ngài cứ tuôn chảy về trong Tôn giả. Nghĩ về một mai đây sẽ không còn Phật nữa, Tôn giả A Nan đã ra ngoài và bật khóc thành tiếng. Ðức Phật nhận biết điều này, Ngài gọi A Nan lại và ân cần, bảo:
"Không nên than khóc, này Ananda, không nên phiền muộn; Như Lai đã từng dạy rằng mọi kết hợp đều phải chấm dứt bằng sự biệt ly. Hiện hữu là vô thường, luôn biến dịch. Ðã từ lâu, con đã tận tình hầu cận Như Lai với tâm quý mến kỉnh mộ, con hãy nỗ lực tu tập để thành tựu quả vị A la hán - quả Thánh tối thượng" (Anguttara Nikàya - Tăng Chi).
Ba tháng sau khi đức Phật nhập diệt, vào đêm trước Ðại hội kết tập kinh điển lần thứ I gồm 500 vị A la hán do Tôn giả trưởng lão Ðại Ca Diếp (Maha Kasyapa) chủ tọa, với nỗ lực thiền quán vượt bực, Tôn giả đã chứng đắc A la hán và được tham dự Ðại hội, phụ trách trùng tuyên kinh tạng. Mở đầu của mỗi kinh, Tôn giả A Nan đã lặp lại lời "Như vậy tôi nghe..." (Như thị ngã văn), mà mỗi khi tiếp xúc với kinh điển, chúng ta đều gặp.

Theo truyền thuyết, Tôn giả A Nan sống đến một trăm hai mươi tuổi. Tôn giả A Nan là một vị để tử lớn đồng thời là một thị giả rất tận tụy với đức Phật. Ngài được đức Phật ngợi khen là người có học thức uyên thâm; có trí nhớ trung thực và bền lâu; tác phong cao quý và trí tuện nhạy bén; ý chí kiên định và là người luôn chuyên chú, cần mẫn đối với công việc cũng như đời sống tu tập (Anguttara Nikàya - Tăng Chi). Hình ảnh Tôn giả A Nan là một hình ảnh thật đẹp và là một tấm gương sáng để cho mỗi người con Phật noi theo.

Thích Tâm Hải
1998

Monday, December 28, 2009

Phương Nào Gặp Lại Nhau

0 comments

Phương Nào Gặp Lại Nhau

Phương ấy là đâu
Người mang hồn tôi đi biền biệt
Xa lạ mùa trăng
Nguyện cầu ngày tháng bình yên

Về với lặng im ta
Dư âm tiếng người trong tâm khảm
Vòng thời gian chậm lại
Chờ mong khoảnh khắc của đêm ngày

Mây vẫn còn trôi
Lặng hỏi phương nào cho mây nghỉ
Xin chớ rời nhau
Đêm trường còn quạnh quẻ cô miên

Còn bờ cỏ non êm
Tìm nhau nơi đỉnh mơ ngày cũ
Người đừng quên ước hẹn
Dẫu ngàn năm hay vô lượng tương lai

Như biển thì thầm
Xin đời đáp lời van của sóng
Người hãy về đây
Đan dấu chân nồng ấm bên nhau

Đêm ngắm nhìn sao
Đếm bao vòng quay nhân thế
Mình đã hẹn nhau
Nơi này hay một cõi rất xa


Cát Biển
26-Dec-2009

Saturday, December 19, 2009

Vũ Khúc Của Dòng Sông

0 comments

Vũ Khúc Của Dòng Sông

Một hôm hoa thắm đầy trong lụa
Vườn xưa có bước chân người qua
Tìm nhau xuôi mấy mùa thác lũ
Lá rụng mầm xanh vũ khúc mùa

Một hôm người biết yêu trần thế
Yêu từng sung sướng cả đau thương
Yêu từng vi tế từng thiên thể
Yêu cả bách hương lẫn đoạn trường

Một ngày sông chảy qua sa mạc
Bao gió cát đời khát ước mong
Mưa lũ bến bờ sương tuyết lạ
Quyện vào điệu nhạc của dòng sông

Một hôm lệ ấm hoen nhòa mắt
Thương bến bờ kia gió nhớ mây
Và như nhộng bướm vô lượng kiếp
Tô sắc hương đời vươn cánh bay

Một hôm chợt cửa lòng hé mở
Ngập ánh trăng bao thuở ngóng chờ
Cõi hồn như bỗng tan huyền diệu
Nhẹ cánh chim triền sông đỉnh mơ


Cát Biển
12-11-2009

Tuesday, December 15, 2009

Ảnh Động

0 comments
Ảnh Động


Hình ảnh xưa của Japan







Friday, November 27, 2009

Mùa Tạ Ơn

0 comments

Mùa Tạ Ơn

Cám ơn quê hai mùa mưa nắng
Cám ơn cha nâng bước dại khờ
Cám ơn mẹ qua ngàn cay đắng
Cám ơn chị em ấm tuổi thơ

Cám ơn nấm xôi và cháo trắng
Cám ơn bánh mì nuôi hơi thở
Cám ơn ớt tương và rau đắng
Cám ơn mồ xanh tuổi em thơ

Cám ơn bạn xưa thời áo trắng
Cám ơn trường dạy biết mộng mơ
Cám ơn dã tâm phe chiến thắng
Cám ơn ngày mất nước bơ vơ

Cám ơn xứ lạ hồn hoang vắng
Cám ơn bàn tay buổi cực cơ
Cám ơn tình người và ánh nắng
Cám ơn giúp đở phận nương nhờ

Cám ơn mùa Đông và tuyết trắng
Cám ơn Xuân hồng kết ước mơ
Cám ơn em tình yêu trong trắng
Cám ơn đời muôn sắc nguyên sơ


Cát Biển
11-24-2009

Monday, November 23, 2009

CHÚ ĐẠI BI

0 comments
THẦN CHÚ ĐẠI BI
Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà ra ni.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa. Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha.
Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. (3 lần)



THỰC HÀNH THẦN CHÚ ĐẠI BI
Ý NGHĨA THẦN CHÚ ĐẠI BI
Thời Phật còn tại thế, ở núi Bồ đà lặc ca, tại đạo tràng Bảo trang ghiêm cùng hàng tam thừa bát bộ và chư thần vân tập đông đủ, ngài Quán thế âm bí mật phóng hào quang soi khắp mười phương quốc độ, Ngài chấp tay bạch rằng:
" Bạch Đức Thế Tôn, con có thần chú bí mật muốn nói cho mọi người biết để trì tụng cho thân tâm được an lạc, không tật bệnh, sống lâu nhiều phước lộc. Thần chú này có công năng dứt trừ các tội ác và cầu mong gì thì như ý muốn."
Đức Phật chấp nhận cho ngài Quán thế âm được trình bày thần chú của mình. Ngài bạch Phật rằng:
"Thời quá khứ trải qua vô lượng ức kiếp có đức Phật xuất thế, hiệu Thiện Quang vương Tịnh trú Như lai, vì con mà nói thần chú Đại bi. Thuở ấy, con đang ở quả vị sơ địa mà một lần nghe thần chú Đại bi, con liền đạt đến quả vị thứ tám. Con phát đại nguyện: "Nếu thần chú này làm cho chúng sanh đời sau có sự ích lợi to lớn thì phải khiến thân con có ngàn cánh tay và ngàn con mắt".
Nguyện như vậy rồi, quả thật thân con có ngàn cánh tay và ngàn con mắt, tha thứ vang động. Các đức Phật phóng hào quang chiếu nơi thân con. Hào quang cùng chiếu vô biên thế giới.
Con lại nguyện: "Nếu có người nào tụng thần chú này năm lần thì trừ được các tội nặng của nhiều đời kiếp trong vòng luân hồi sanh tử. Và người ấy khi thân mạng sắp mất được mười phương chư Phật đưa tay thọ ký cho họ sanh về cõi nước Tịnh độ".
Con thề rằng: "Nếu người tụng thần chú Đại bi mà bị đọa lạc vào ba đường dữ, không sanh về cõi nước của đức Phật, không được vô lượng tam muội biện tài và những sự cầu nguyện không như ý muốn thì không xứng đáng để gọi thần chú Đại bi".
Ngoại trừ những hạng người trì tụng thần chú này mà tâm không có thiện hảo, cứ độc ác, không tha thiết chí thành, chỉ có một chút nghi ngờ là không hiệu nghiệm.
Nếu có những người đã từng phạm mười trọng tội và gây ra năm thứ nghịch chướng to lớn, hủy báng Phật pháp, phá giới cấm, làm các điều dơ bẩn trải qua nhiều đời nhiều kiếp, dầu có gặp Phật xuất thế mà không chịu sám hối chừa bỏ các tội ác, một lần chí thành không mảy may nghi ngờ mà tụng thần chú Đại bi này là bao nhiêu tội lỗi đã tạo ra trong quá khứ đều được dứt trừ hết.
Nếu có ai gặp các sự rủi ro tai nạn khốn khổ mà tụng Đại bi thần chú đều được thoát khỏi một cách dễ dàng.
Nếu người tụng Đại bi thần chú để cầu nguyện, kết luận cầu nguyện gì đều được như ý.
Kinh Lăng Nghiêm dạy rằng: Thần chú bí mật của chư Phật, chỉ có Phật với Phật mới biết mà thôi, còn ngoài ra không ai có thể hiểu được dù cho có đạt đến địa vị thánh hiền đi nữa. Nhưng rất hiệu nghiệm, có công năng làm tiêu mất tội nghiệp và chóng đạt đến quả vị giải thoát, cho những ai thành tâm trì tụng.
Thần chú là một ấn chư Phật tương truyền không thể diễn giải, chỉ có tín tâm đọc tụng hoặc thầm niệm là có sự linh cảm hiệu nghiệm tột bực.
Bát nhã kinh dạy rằng: Thần chú là liều thuốc hay, là nước cam lồ vi diệu trị lành các thứ bệnh của mọi người. Nếu ai chuyên trì tụng sẽ thường được an lạc.
Trong Ký thủ kinh, đức Như Lai dạy có năm tạng: Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, Bát nhã tạng, và Thần chú tạng. Mà hiệu quả nhất, chóng an lạc giải thoát nhất là tụng Thần chú.
Qua những lời Bồ tát Quán thế âm bạch Phật và các kinh dạy trên thì rõ ràng thần chú này quá diệu dụng, rất đáng được cho mọi người hành trì.
Kinh chú của Phật, tất cả mọi người đều có thể trì tụng, nhưng muốn được lợi lạc trong khi tụng kinh trì chú, người Phật tử hãy cố gắng giữ gìn thân, miệng và ý của mình được trong sạch, siêng năng ăn chay, giữ giới. Phật dạy: làm các việc bố thí, phóng sanh, dứt điều ác, làm việc thiện, thì mới được kết quả tốt đẹp.

Thursday, November 19, 2009

Một Hôm Em Là Nguyệt

1 comments
Một Hôm Em Là Nguyệt

Anh bước vào trần thế
Tầm tay tìm vọng nguyệt
Trôi suối đời mãi miết
Như quên cả lối về

Chợt thanh âm huyền hoặc
Anh bước chân tỉnh thức
Niềm tin từ đáy vực
Nghe vui từng khoảnh khắc

Mây bên em huyền diệu
Tỏa nhẹ ánh bình minh
Ngọn suối từ êm ái
Anh thấy lại chính mình

Một hôm em là nguyệt
Duyên nào ta bình yên
Chiếu vàng đêm giá tuyết
Hương dâng niềm hạnh nguyện


Cát Biển
11-18-2009

Lê Văn Khoa – Bản Sắc Việt Qua Âm Nhạc

0 comments
Lê Văn Khoa – Bản Sắc Việt Qua Âm Nhạc

Khi tôi viết bài này, bản nhạc Kãoma Lambada trên YouTube đã có 37,550,442 lượt xem. Đây là một con số rất lớn, cho thấy tầm ảnh hưởng sâu rộng của dòng nhạc La Tinh Nam Mỹ trong một thế giới mà hàng rào biên giới cách biệt của văn hoá gần như bị phá vỡ bởi Internet. Con người đang đến gần với nhau hơn. Thế giới bây giờ là một sinh hoạt Đa Nguyên với bản sắc văn hoá các dân tộc cọ xát, chia sẻ, ảnh hưởng lẫn nhau.

Văn hoá Nhật nổi tiếng với các đoàn trống Taiko mà chính các môn sinh Âu Mỹ cũng thích thú tìm sang Nhật tập luyện. Các vũ khúc Hàn Quốc hoà với tiếng trống tiếng sáo và đàn tranh tạo nên giá trị văn hoá đặc thù. Nếu nói âm nhạc Nam Mỹ La Tinh có bản chất đặc biệt đã sinh ra các điệu Rumba, Cha Cha Cha, Pasodobe, Tango v.v...thì tại sao không thể có bản sắc Việt trong âm nhạc? Hỏi tức là trả lời. Yes, phải có và nên có. Và một trong những nhạc sĩ mang tâm huyết gắn bó đem cái “hồn” Việt vào âm nhạc tây phương chính là Nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa không phải là người Việt Nam đầu tiên dấn thân làm việc này. Điểm đặc biệt của ông chính là ở chỗ mang tiếng nhạc thuần tuý chuyên chở bản sắc Việt, trình diễn bằng các nhạc cụ tây phương, vượt qua giới hạn của các ca từ.

Có người đề nghị dùng danh từ “ca khúc” cho những bản nhạc có lời, và “nhạc phẩm” cho các bản nhạc hoà tấu không lời. Nói một cách nôm na, ca từ có thể giúp mọi người truyền đạt và nhận hiểu được các cảm giác sâu đậm, có khi ứa lệ vì xúc động. Vì tiếng nói, tức ngôn ngữ, mang khá đầy đủ ước lệ, để nói và nghe nhận. Các hiệp định hay thoả ước quan trọng lại cần phải xác minh tường tận, các danh từ còn phải được định nghĩa đầy đủ thêm chi tiết để tránh hiểu lầm. Tiếng nhạc hiển nhiên không đạt được cảm thông sâu sắc như ngôn từ, ví dụ không ai “chuyện trò” hằng ngày bằng âm nhạc cả, vì thiếu các định lệ để hiểu rõ chính xác ý người kia muốn nói gì. Tuy nhiên trong cái thiếu sót lại có cái hay. Khi thưởng thức một bản nhạc giao hưởng, người ta không còn bị giới hạn về ngôn ngữ nữa. Khán giả của nhiều quốc gia khi thưởng thức giàn nhạc giao hưởng có thể nghe lắng tiếng nhạc như nhau, và tuỳ nghi diễn giải theo cảm xúc riêng của chính mình. Đây là lúc các nốt nhạc được thăng hoa thành ngôn ngữ “chung” để truyền đạt và tiếp thu cảm xúc giữa nhạc sĩ và người thưởng ngoạn. Trên vài bình diện nào đó, chúng ta có thể nói các “nhạc phẩm“ (không lời) mang được âm nhạc trở về với sứ mạng nguyên uỷ của nó, là phục vụ cho cái đẹp của chính nó, tức âm nhạc.

Qua công trình miệt mài của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, chúng ta được thổi một luồng gió mới đầy sinh khí. Chúng ta có niềm hi vọng đẹp đẽ vào tương lai, về tiềm lực của Di Sản Việt đóng góp vào văn hoá âm nhạc thế giới.

Nhìn lại nền âm nhạc thế giới hiện nay, có những tiến triển mà chỉ mấy năm trước người ta không thể tưởng tượng tới. Như nhạc Rap của người Da Đen, bây giờ trở nên thông dụng với con số phát hành khổng lồ trong nước Mỹ, rồi lan tràn gây ảnh hưởng qua nhiều quốc gia Âu, Á, Úc khắp nơi. Nhạc Rap lại còn sử dụng các âm thanh biến chế điện tử nên càng được phong phú hoá bằng cách phối khí.

Như vậy xu hướng âm nhạc tân tiến trên thế giới là sử dụng đa chất liệu. Trở về với bản sắc âm nhạc thuần tuý Việt Nam có nghĩa là chúng ta sẽ khai phá cơ hội thăng hoa nhạc Việt, chứ không phải là chỉ đơn thuần trở về với các lối mòn cũ xưa. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người đã giới thiệu âm nhạc dân gian Việt (đơn giản, ngũ cung) trong khung cảnh to rộng hoành tráng đầy màu sắc của dàn nhạc giao hưởng, hoặc bằng tiếng dương cầm thánh thót. Công trình của nhạc sĩ Lê Văn Khoa là đã làm sống dậy tâm hồn, hơi thở, tình cảm của dân tộc qua những âm ba mới mẻ, tinh vi, sâu sắc; có khả năng len lỏi vào các ngõ ngách sâu xa trong tâm thức người thưởng ngoạn.

Nếu nói âm nhạc là một công tác “kế thừa”, thì cũng nên hiểu việc “về nguồn”, với âm giai có sẵn của tiền nhân, cũng chẳng có gì hay ho nếu thiếu sáng tạo. Nhưng nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã biết tiếp thu và sáng tạo. Ông làm mới, ông đánh thức một kho tàng văn hoá tiềm ẩn của nhạc dân gian Việt. Khi nghe Symphony của Lê Văn Khoa do giàn giao hưởng trình tấu, chúng ta lạc vào một vũ khúc tinh diệu với các âm thanh mới lạ quây quyện một “hồn” nhạc rất Việt Nam. Như vậy, thế giới được thưởng thức bản sắc âm nhạc mới mà trước đây họ chưa có dịp nghe qua, và chúng ta được tìm thấy cái hay cái thâm thuý của bản sắc Việt qua phối khí hoàn toàn mới lạ. Từ những nét nhạc dân gian đơn sơ của Việt Nam ông đã phong phú hoá với các nhạc cụ tây phương. Chúng ta hãy nghe lời tâm sự của Lê Văn Khoa:

“Mục đích là tôi muốn dùng những nét nhạc hết sức đơn sơ của Việt Nam mà mình có thể biến hoá để người nước ngoài có thể dùng được. Bằng cách đó, mình đưa nhạc Việt đi xa hơn để hoà vào với dòng nhạc thế giới. Tại sao người ta chơi nhạc Đức, nhạc Nga, nhạc Anh, v.v… mà không chơi nhạc Việt Nam? thành ra tôi tâm nguyện là phải làm sao để đưa nhạc Việt mình cho thế giới biết tới nhạc Việt Nam. Đó cũng là cái ý niệm mà tôi đã có từ trước năm 1975. Trong một buổi nói chuyện với nhạc sư Nguyễn Hữu Ba về vấn đề phổ biến nhạc Việt, ông ta chủ trương nhạc Việt phải chơi bằng nhạc cụ Việt Nam. Tôi thì ngược lại, tôi nói là phải viết cho nhạc cụ Tây phương. Nghe mà người ta cảm thông được thì người ta mới tiếp nhận. Nhờ đó, nhạc sĩ trên thế giới mới chơi được, còn nếu mình chỉ chơi nhạc cổ truyền của mình mà thôi, thì người nào phải học nhạc cổ truyền mới chơi được. Như vậy là tự mình giới hạn mình.”

Sự nghiệp tác phẩm của Lê Văn Khoa to lớn và đáng kể, không chỉ giới hạn ở nhạc phẩm giao hưởng trình tấu. Ông từng viết nhiều ca khúc cho nhi đồng. Tập nhạc “Dân ca Việt Nam”, và “Hát Cho Ngày Mai” gồm 24 ca khúc, với cả nhạc lẫn lời. “Nhạc Việt Mến Yêu” được Lê Văn Khoa viết phần Piano để giới thiệu các nhạc khúc phổ thông cho trẻ nhỏ học đàn.

Một cái hay khác của dòng nhạc Lê Văn Khoa là đã tạo niềm cảm hứng và rung động của nhiều nhạc sĩ thế giới để họ tiếp nhận đầy cảm hứng, để rồi nỗ lực tập luyện và trình diễn các nhạc phẩm của ông. Như vậy các bản nhạc trình diễn là sự rung cảm thực sự từ nhạc sĩ đến nhạc sĩ, mà những người sáng tạo thường trân quý nhau bằng tiếng gọi “tri âm” hay “tri kỷ”. Thí dụ là trong bài Cây Trúc Xinh (The Beautiful Bamboo), điệu dân ca miền Bắc với thang bậc ngũ cung, khi được trình bày qua tiếng đàn Piano của nữ nhạc sĩ Irina Starodub người ta nghe được nét trân trọng và trìu mến. Tuy là người ngoại quốc diễn tấu nhạc dân ca Việt Nam bằng dương cầm, nhưng vẫn giữ được giai điệu của Việt Nam. Irina Starodub cho thấy một sự nhạy cảm hiếm có. Người nghe tưởng chừng như tiếng gió đang đùa bên khóm trúc của quê hương Cần Thơ, quê quán của nhạc sĩ Lê Văn Khoa…

Các tác phẩm của Lê Văn Khoa cũng đang được sử dụng để giảng dạy tại phân khoa Âm nhạc ở một số trường đại học tại Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Riêng trong lãnh vực nhạc Piano của Lê Văn Khoa, một giáo sư dương cầm của nhạc viện Alexandria tại Ukraine nói, “Tôi thích nhạc của Lê Văn Khoa vì nhạc của ông rất trong sáng, có nhiều chất liệu lý thú để cho các nhạc sĩ chuyên nghiệp và thính giả khám phá. Nhạc sinh của tôi đã trình diễn nhiều nhạc phẩm của ông.”

Hình: Giáo Sư Lyudmila Chychuck, Trung Tâm Văn Hóa và Nghệ Thuật Quốc Gia ở Kiev, Ukraine

Dương cầm thủ quốc tế, Giáo Sư Lyudmila Chychuck, khi viếng Little Saigon đã diễn giảng và biểu diễn nét mới lạ trong dòng nhạc Lê Văn Khoa với khán giả. Cô hiện là giáo sư trường danh tiếng Âu Châu Lysenko Special School, chuyên dạy nhạc sinh trẻ có thiên tư về nhạc và tại Trung Tâm Văn Hóa và Nghệ Thuật Quốc Gia ở Kiev, Ukraine.

Đây là một phát biểu đầy vinh dự cho một nhạc sĩ Việt Nam. Vì bản thân cô Lyudmila Chichuck là một kỳ tài về âm nhạc. Cô học nhạc từ lúc lên 5. Tốt nghiệp National Tchaikowsky Conservatory of Music tại Kiev, thủ đô Ukraine. Những thành tích của cô gồm: 17 tuổi chiếm giải thi sáng tác nhạc thiếu niên toàn quốc, chiếm giải “Người Ðệm Ðàn Xuất Sắc” trong cuộc thi năm 2000 và 2001, Ukraine. Cô đoạt giải thưởng cuộc thi Piano Quốc Tế tại Bordeaux, Pháp, năm 2006. Tham gia đại hội âm nhạc quốc tế Jean Francais tại Paris năm 2008. Cô thu thanh nhạc phim cho các nhà viết nhạc Tây Ban Nha Lucas Vidal và Zakarias Martinez De La Riva. Vì yêu nhạc của Lê Văn Khoa, Lyudmila Chychuk đã thu thanh nhiều nhạc phẩm Piano của ông. Cô cũng đi trình diễn khắp xứ Ukraine và cả Vienna, Austria.

Phân khoa Thanh Nhạc của trường Golden West College tại Quận Cam, California, đã ấn hành và sử dụng để dạy những bài dân ca Việt Nam do Lê Văn khoa viết phần đệm Piano và những câu chú thích bằng tiếng Anh.Các nhạc sinh khi chuẩn bị thi tốt nghiệp thì phải hát một bài trong tập Dân ca này. Đây quả là điều hãnh diện giới thiệu các nhạc sĩ âm nhạc tương lai về nhạc Việt Nam. Các sinh viên của trường cũng từng tổ chức trình diễn các nhạc phẩm này.

Không riêng gì với nhạc, Lê Văn Khoa còn là một khuôn mặt lớn với các thành đạt về nhiếp ảnh, truyền thông, giáo dục và nhiều lãnh vực khác. Tôi có cơ duyên hợp tác với chung với Lê Văn Khoa một thời gian ngắn trong chương trình Truyền Hình Việt Nam vào khoảng 1988, để thấy ông là một người đa tài với đam mê và sáng tạo.

Xin cám ơn nhạc sĩ Lê Văn Khoa với tất cả lòng tri ân và ngưỡng mộ dành cho một người tài hoa, với nhiều công trình dấn thân cho nghệ thuật.

Cát Biển
Oct 2009

Monday, November 16, 2009

Có Phải Em Là

2 comments

Có Phải Em Là

Có phải vì em mà gió lộng
Hay vào trường mộng dấu chim bay
Có phải vì trăng hồ óng ánh
Hay huyền thoại ảnh mắt ta say

Có phải ngàn xưa duyên đã nhụy
Hay từ vô thỉ sóng vây nhau
Có phải chiều nay hoa mới nhú
Hay từ tinh tú sáng phương nào

Có phải vì thương mà nắng đọng
Hay vì bờ rộng gió bao la
Có phải vì thu gieo lá vỡ
Hay vì nhung nhớ bụi sương sa

Có phải vì rung nên biển động
Hay tầng cao vọng tiếng chuông ngân
Có phải là em là cổ tích
Xuyên vùng tịch mịch sáng tương lai


Cát Biển
07 Nov 2009

Hà Thượng Nhân - Đối Thoại Với Cuộc Đời Qua Thi Ca

0 comments


Hà Thượng Nhân - Đối Thoại Với Cuộc Đời Qua Thi Ca

Nhà thơ Hà Thượng Nhân ghé bên dòng suối thi văn để thưởng ngoạn vui chơi và trút trao nổi niềm tâm sự. Trong khi một số văn nghệ sĩ khác thí nghiệm hoặc lao mình vào một số danh từ thời thượng hoặc tìm cái lạ qua những cách ngắt câu bất ngờ hay những cú sốc trong ý tưởng, thơ của Hà Thượng Nhân không câu nệ vào hình thức. Ông đi tìm chiều sâu của tâm hồn. Thi phong của Hà Thượng Nhân có nét sâu kín thầm lắng không phô trương, mang tâm hồn bình dị chân phương.

Qua thơ của ông người đọc thấy dáng dấp của một tâm hồn hiền hòa, đôn hậu, nghiêm túc không đùa cợt với chữ nghỉa. Có nhiều lúc trong thơ ông, người ta bắt gặp một khóe tâm sự hoài mong, chút mặn nồng với nắng mưa kỷ niệm, và thấp thoáng đâu đây bóng dáng của Lảo Tử và Trang Tử đang phất quạt coi nhẹ hiện tại để hướng về một miền tâm linh nào đó xa hơn bên ngoài tinh cầu này. Nhà thơ Hà Thượng Nhân ngân nga và trải dài tiếng lòng của mình với cuộc đời qua thi văn. Nói một cách khác, người thơ Hà Thượng Nhân đang đối thoại với cuộc đời qua thi ca.

Bước vào tuổi hạc, thật khó mà tưởng tượng nỗi ông là tác giả của những dòng thơ man mác với cảm xúc mượt mà, trẻ trung, và tinh diệu. Nét chân phương thanh thoát lồng trong súc tích của ngôn từ. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng lòng qua thơ của ông:

Sắp sửa thu rồi người nhớ không?
Ta về nghe gió thổi đầy sông
Nghe dường mây trắng trong thơ cổ
Phơ phất bay như ngọn cỏ bồng

(Hà Thượng Nhân, Mơ Hồ, 2009)

Ta về nghe gió thổi đầy sông. Bình dị quá, mà sao man mác vi vu hoang mạc. Lời thơ buông nhẹ như nốt dương cầm buông lơi. Tuy đồng hành với các nhà thơ tiền chiến khác như Hữu Loan, Văn Cao, Hà Thượng Nhân cho thấy ông không bị đóng khung trong các ước lệ về “nét đẹp” và tính lãng mạn của dòng thi ca tiền chiến. Nét đẹp trong ca khúc Thiên Thai đầy tính siêu thực của Văn Cao như:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào nguyên...


Cho ta thấy một ý niệm đầy ước mộng vượt thoát khỏi hiện tại của thi ca tiền chiến. Tuy cũng vương mang một chút gì hững hờ với thực tại, lời thơ Hà Thượng Nhân khác mới hơn ở những diễn biến nội tâm với chút khắc khoải, hoài niệm; trực thoại hơn là bao bọc bằng lớp vẹt ni bóng loáng:

Cỏ đã vàng theo những bước chân
Môi son đã nhạt vẻ ân cần
Nhìn sâu đáy mắt hồ Than Thở
Tưởng vẫn ngày xưa, vẫn cố nhân
Người cố nhân ư ? Ta muốn hỏi
Ồ ly rượu ấy một mình say
Trong say ta thấy lung linh nắng
Tóc xõa bờ thon chặt nắm tay

(Hà Thượng Nhân, Mơ Hồ, 2009)

Hình ảnh “cố nhân” ở đây, chính là chút hoài niệm. Một nổi niềm uẩn ức, không trọn vẹn. Có một hố thẵm, một mất mát, hư hao nào đó mà người thơ Hà Thượng Nhân đã không lấp đầy nó được. Giữa hiện tại và quá khứ vẫn còn một giòng sông vô hình chảy qua và chia cắt. Có lẻ người thơ đang muốn mang chúng ta về với quảng đời êm đẹp ngày xưa:

Ta gối tay nằm biết nhớ ai
Nhớ đồng lúa chín, nhớ sông dài ?
Phải rồi, ta nhớ, hình như nhớ
Một mảnh trăng non lá trúc cài

(Hà Thượng Nhân, Mơ Hồ, 2009)

“Một mảnh trăng non lá trúc cài” nghe như tiếng lòng từ vô thức, mang chúng ta về với giai đoạn thanh bình ngắn ngủi sau khi đất nước chia đôi, trước khi nỗ bùng cuộc binh biến đưa đẩy đến những hoang tàn.
Sau cuộc đổi đời 1975, nhà thơ Hà Thượng Nhân thấm thía tê tái trong hồn với những thương tích cay đắng lê thê trong trại tù cải tạo trên đất Bắc. Từ xứ Mỹ xa cách quê hương ngàn dặm hằng nữa tinh cầu, ông nhớ về thành phố Sài Gòn yêu dấu của kỷ niệm xưa bằng nhừng lời xót xa:

Người ta lên mặt trăng
Mặt trăng gần quá nhỉ!
Anh muốn về Sài Gòn
Sài Gòn xa đến thế!
Sài Gòn xa hơn trăng
Trăng đêm đêm vẫn thấy
Lòng anh, em thấu chăng
Thấm trên từng trang giấy
(Hà Thượng Nhân, Nhìn Trăng)

Hình từ trái: Quốc Nam, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân (năm 1991)

Như nhịp cầu nối dài các thế hệ sáng tác qua các biến động lịch sử, thơ ông chứa đựng tâm huyết và u uẩn của giới sáng tác thi ca hải ngoại. Phải chăng vì vậy mà ông còn được gọi thêm là Hà Chưởng Môn. Phất phơ tuổi hạc mà ông vẫn ghé bến thơ với những dòng thi văn phong phú, thanh thoát, nhẹ nhàng không câu nệ. Bao nhiêu bài thơ của ông trải ra ngòi bút tự nhiên không gò bó, như nhịp đập con tim, như hơi thở, như cảm xúc nguyên sơ. Đây phải chăng là lý tưởng nho giáo thanh lịch, nhập mà như đã thoát. Ông bay cao bằng đôi cách trí tuệ của tâm hồn thi nhân qua lời thơ của ông:

Không cần thép, thơ vẫn là bó đuốc
Thơ nâng người cao sát với thần linh


Hà Thượng Nhân sáng tác rất nhiều thơ với nhiều thể loại: lục bát, đường thi thất ngôn bát cú, ngũ ngôn, song thất lục bát, cổ phong trường thiên, thơ mới, thơ phá thể... Người viết bài này chỉ muốn phát họa những nét chính yếu đáng kể theo cảm xúc của riêng mình. Hi vọng trong cái thiếu sót của nhãn quan qua “lượng”, người viết nêu lên phần nào nét đặc thù về “phẩm” với dấu ấn của một thi sĩ miền Hà Thượng, mang tên Hà Thượng Nhân.

Cát Biển

Monday, October 19, 2009

Nhánh Sông Phiền Muộn 2 (Nhạc)

1 comments
Nhánh Sông Phiền Muộn 2

Thơ : Cát Biển
Nhạc: Nguyễn Thiện Doãn
Ca sĩ: Xuân Trường
Hòa âm: Nguyễn Quang

Mặt trời hồng ngủ ngang đồi núi
Bầy chim non ngưng hót trên cây
Người ghé ta rừng không đợi tuổi
Người đi xa gió kéo giăng mây

Đời muộn phiền giòng sông rẽ nhánh
Và sương mai thấm ướt tim khô
Vàng ngất ngây rừng im nhịp thở
Vùng dư âm khép tiếng cung đàn

Hãy cứ buông tay chiếc lá vàng
Hãy tiễn đưa đời phút ly tan
Hãy cố quên giây phút ngỡ ngàng
Chớ luyến lưu tình đã phai tàn

Hãy ngắt đóa sầu đau năm tháng
(Ai) nghe vụn vỡ ánh trăng vàng

Người bên kia bờ sông xa thẳm
Mãi nhớ người ta chờ tay ấm
Mơ tiếng cười ru hồn bừng say
Mãi nhớ người nhánh sầu chia sông


Wednesday, October 7, 2009

Khúc Hát Đêm Mưa

1 comments

Khúc Hát Đêm Mưa (nguyên tác: Romance)

Lời Việt: Đình Nguyên
Ca sĩ: Quỳnh Lan

Réo rắt tiếng hát trong đêm mưa
dặt dìu về theo muôn lối thánh thót rót rơi bên song
như tâm tư đang héo hon ngóng trông mãi
kiếp tha phương đã bao năm qua biệt ly
như chim di đến bao giờ được gặp lại

Héo hắt nỗi nhớ mong vô biên
đã nhiều lần con tim với nước mắt ấy
vẫn như mưa mang tâm tư theo lá rơi
cuối sông vắng gió thu lay cánh hoa xưa
nay về đâu ai ca chi khúc chia lìa để chạnh lòng

Khúc hát réo rắt đêm mưa rơi trong cuộc đời
về cùng lúc với trống vắng quá xa xôi, lên chơi vơi
nghe tiếc nuối lúc tiếng hát đã ngân lên bao yêu thương
cho tơ vương ra muôn phương khúc ca dệt chạnh lòng sầu

Hãy đến với những ai đang yêu trong cuộc đời
và cùng hát khúc hát ấy với con tim đang yêu thương
mang tiếng hát đến với những nỗi đau thương nơi xa xôi
trên đôi môi cho muôn nơi khúc ca dạt dào lời tình



Sunday, October 4, 2009

Việt Hải – Giấc Mơ Sáng Tạo

0 comments
Việt Hải – Giấc Mơ Sáng Tạo

Cát Biển

“Use no way as way, use no limitation as limitation”
Bruce Lee (Lý Tiểu Long)

Anh có rất nhiều năng lực. Anh sống cả cuộc đời đầu tư vào tình bạn. Anh có niềm đam mê văn chương. Ngày nay trên mạng ít người không biết tên anh qua sinh hoạt rầm rộ của Văn Đàn Đồng Tâm. Từ những ngày tôi mới biết anh, tôi đã thấy một mãnh lực thúc đẩy anh phải làm một điều gì đó với sáng tạo văn học. Khoảng năm 1999, chúng tôi chỉ mới biết nhau qua một Diễn Đàn trên mạng nhưng rất quý nhau. Tôi gặp anh lần đầu vào năm 2002 trong kỳ ra mắt tập thơ của nhà thơ Yên Sơn tại Nam Cali. Lúc đó tôi mới hiểu chân trái của người bạn mình rất yếu vì anh đã từng một lần bị stroke. Tôi quý anh vì cách giao thiệp vui vẻ nhiệt tình trên mạng, càng quý và trọng hơn với những phấn đấu bản thân mà hằng ngày anh phải vượt qua. Năm 2003 tôi được tin người bạn thân quý này lại bị stroke lần thứ hai. Sau đó anh không nói chuyện được nữa. Mãi hơn 5 năm sau anh mới phục hồi đầy đủ khả năng phát âm, nói chuyện rành mạch. Từ lần stroke thứ hai đó, một cánh tay không sử dụng được, bàn tay còn lại anh gõ computer chỉ bằng 1 ngón. Ấy vậy mà anh đã sáng tác không biết bao nhiêu bài thơ Anh và Việt ngữ, và vô số bài viết về đủ thể loại, từ truyện ngắn, tuỳ bút, biên khảo, gia chánh, sức khoẻ, đến các đề tài yểm trợ cho các vận động dân chủ trong nước. Người bạn đặc biệt này đã hợp tác với anh Tạ Xuân Thạc thành lập Văn Đàn Đồng Tâm. Sau 4 năm hoạt động không ngừng nghỉ, với số năng lượng tưởng chừng như được cung cấp bởi 1 lò nguyên tử năng, anh đã đẩy mạnh các hoạt động của Văn Đàn Đồng Tâm lan tràn ra mọi lãnh vực văn nghệ và văn chương và qua khắp biên giới lục địa. Anh chính là Trần Việt Hải, tác giả với bút hiệu Việt Hải LA. Anh là một người bạn chân tình mà tôi thương, quý mến và chân thành ngưỡng mộ.

Việt Hải phát biểu hoạt bát trong một 1 tiệc họp
mặt thân hữu tại Nam Cali (2002)

Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm, Mỹ Ngọc, Việt Hải, Bảo
Trân, Cát Biển (Huntington Beach, Nam Cali -2002)

Một trong những điểm son của Văn Đàn Đồng Tâm là bắt tay với Trung Tâm Asia để hoàn thành tác phẩm “Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng” phát hành vào tháng 9, 2009 song song với DVD Asia 62 “Anh Bằng Một Đời Cho Âm Nhạc” cùng lúc với Tuyển Tập Đồng Tâm 9. Đây không phải là lần đầu Văn Đàn Đồng Tâm cùng lúc phát hành nhiều tác phẩm. Những tác phẩm như (Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ / Cội Tùng Trước Gió, Vinh Danh Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia, Kỷ niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng...) đều được Văn Đàn Đồng Tâm đóng góp bài vở song song với các Tuyển Tập Đồng Tâm từ 1 đến 9. Các thành quả nêu trên đều do sự đóng góp chủ lực của Việt Hải.
Một người bạn mới quen và gặp anh lần đầu sẽ đi từ ngạc nhiên đến mến phục khi biết ra người đang giao tiếp vận động rộng rãi hằng ngày trên mạng, vẫn phải cố vượt qua những giới hạn của một thể xác từng 2 lần đối phó sống còn với chứng đột quỵ.
Tiềm lực đặc biệt của Việt Hải là ở bản chất hoạt bát, khả năng giao tế, sáng tạo, kết hợp và niềm tin. Nếu nói 2 lần bị đột quỵ là một đe doạ quan trọng đến mạng sống riêng anh, nó lại giúp cho anh có cơ hội đóng góp toàn thời gian cho đam mê thi văn nói riêng, và kết hợp văn hoá trên mạng nói chung. Trong vòng vỏn vẹn 4 năm thành lập, Văn Đàn Đồng Tâm đã tổ chức nhiều buổi ra mắt sách quan trọng từ Houston sang San Jose, Little Saigon, Úc Châu và lập chương trình các buổi RMS tại nhiều quốc gia khác. Văn Đàn Đồng Tâm đã quy tụ rất nhiều tài năng thi văn nhạc khắp nơi.

Việt Hải nối tiếp được thế hệ lớn đi trước và thế hệ trẻ đi sau. Anh như thổi luồng gió hồi sinh cho những tác giả từng rất nổi tiếng một thời, qua chương trình ấn hành một loạt các sách Tuyển Tập nhằm vinh danh những người đã đóng góp đáng kể vào Văn Hoá Việt (như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Xuân Vinh, Anh Bằng, Lê Dinh, Lê Văn Khoa, Lam Phương, Hà Thượng Nhân, Lê Hữu Mục, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Thanh Liêm v.v..). Theo tôi nghỉ Việt Hải đã làm được một điều rất tốt, là sự tận tình nâng đỡ, đề cao, tu bổ các tác giả trẻ tuổi để truyền đạt đam mê sáng tạo văn học. Anh liên tục giúp đỡ một cách không mệt mỏi các cây viết trẻ về những hướng đi quan trọng trong văn chương.

Peter Morita, Yên Sơn, Cát Biển, Quỳnh Hương, An
Phú Vang, Vũ Thư Nguyên, Việt Hải (2002)

Khởi đầu bài viết này tôi có ý định viết về “thơ của Việt Hải” vì theo tôi, thơ là thước đo khá tốt về chiều sâu của 1 người sáng tạo. Nhưng rồi tôi cảm thấy không ổn, vì lúc trước Việt Hải đã viết nhiều thơ, nay lại viết nhiều, không, phải nói rất nhiều - văn đủ thể loại. Nếu tôi cố gồm thâu cái nhìn tổng hợp về sáng tác của anh thì bài viết này phải rất dài.

Thay vì đưa tay đầu hàng vô điều kiện vì Việt Hải sáng tác quá nhiều, cuối cùng tôi chọn 1 góc cạnh thích hợp cho bài này. Đó là những gì tôi quý mến và ngưỡng mộ Việt Hải với cái nhìn của một người bạn từng có cơ hội sáng tác song hành với anh qua 10 năm. Như vậy, những ai muốn tìm những lời lẽ “phết vôi” khen lấy khen để về thi văn của Việt Hải có thể sẽ thất vọng. Tôi chỉ muốn chia sẻ niềm vui và hạnh phúc của tôi tìm được trong những mẫu chuyện thân tình về một người bạn mà tôi rất quý. Như vậy, hạnh phúc là điều chính người viết sẽ tìm thấy được trong bài viết này. Bài này sẽ rất ngắn hơn dự tính ban đầu, nhưng chuyên chở tình cảm bao la cho người bạn tôi thương quý và ngưỡng mộ.

Có lần tôi tự hỏi, chúng ta sẽ mất hoặc thiếu đi những hạnh phúc nào nếu Việt Hải chưa từng xuất hiện trên mạng?
Đây nhé, ít nhất chúng ta sẽ mất đi các đối đáp dí dỏm trên mạng (mà đôi khi chính tôi là nạn nhân). Chúng ta sẽ thiếu đi sợi giây liên lạc, nhất là khi hữu sự (hay hậu sự). Chúng ta sẽ mất đi một động cơ ngàn mã lực chạy bằng nuclear power nhằm thúc đẩy các sáng tác mới, trăm hoa đua nỡ, cho Di Sản Việt. Chúng ta sẽ mất đi 1 lòng tri ân các nhân vật văn hoá có công lao, của tập thể Người Việt Hải Ngoại. Các nhà đấu tranh chân chính trong nước sẽ mất đi 1 cánh tay dài hỗ trợ. Các nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ sẽ thiếu đi một nối kết vô hình “liên-lục-địa”. Các cây bút trẻ sẽ thiếu đi 1 tấm lòng hướng dẫn, nâng đỡ và 1 bàn tay nắm víu khi bước về với văn hoá cội nguồn, gọi là Cultural Identity, trong dòng sinh hoạt Đa Nguyên Nước Mỹ...

Ở Việt Hải tôi tìm thấy một giấc mơ. Giấc mơ lưu lại điều gì đó giữa vô thường. Hành trình của anh là chia sẻ và cám ơn. Chia sẻ là trao đổi, phấn đấu, góp một bàn tay, lưu lại di sản văn hoá Việt cho thế hệ kế tiếp. Cám ơn là tri ân từng ngày hiện hữu đã cho người Việt cơ hội vươn lên. Và lựa chọn Cứu Cánh của anh là những đóng góp về sáng tạo văn hoá nghệ thuật. Tôi, với tính cách một bạn thân, được ghế ngồi đặc biệt để xem sân khấu mỹ lệ đó. Từ những ngày góp sức dự Ra Mắt Sách Văn Đàn Đồng Tâm tại Bắc Cali năm 2007, rồi họp mặt TMC năm 2008, chúng tôi có dịp về tá túc chung với nhau mấy ngày để thấy thương bạn mỗi khi thay quần áo, đi đứng, chải đầu. Những cử động mà chúng ta làm hằng ngày trong vô thức như cài nút áo hay mang giầy v.v... đối với Việt Hải đều là những thủ tục cần chú tâm và cố gắng. Ấy vậy mà Việt Hải hăng say sáng tác, mải mê vận động và cổ động. Anh là người tạo nên giông bão. Anh đã từng đối diện sự chết. Và anh đã sống bằng trăm lần các người khác đã sống.

Anh xuất hiện trên mạng nhiều hơn là trên sân khấu của những buổi trình diễn họp mặt. Anh vui trong sự thành công của bằng hữu. Và cũng phải nghe nhiều lời than khi người khác phạm lỗi. Anh làm tôi liên tưởng lời bà Harriet Tubman. Trên con đường đấu tranh cho tự do một phụ nữ can đảm người New York, bà Harriet Tubman, người đã liều mạng sống nhằm cứu những nô lệ đi trốn từng chỉ dẫn: "Nếu bạn nghe chó sủa, cứ bước tới. Nếu bạn thấy đuốc đi lùng thắp sáng đầy rừng, cứ bước tới. Nếu có tiếng la đuổi theo bạn, cứ bước tới. Không bao giờ ngừng lại. Cứ bước tới. Nếu bạn muốn nếm mùi vị của Tự Do, bạn phải ngang nhiên bước tới"...

Việt Hải, Lệ Hoa và 2 cháu Hải Việt, Hải Nam

Sau khi bị stroke lần đầu, với đứa con lớn mới 3 tuổi và đứa kế 2 tuổi, Việt Hải viết bài thơ “Will You Love Me Still” như những lời thương yêu kỳ vọng, nhắn nhủ với người bạn đời Lệ Hoa. Dạo đó Lệ Hoa mỗi sáng từ 8AM đến 9AM trước khi làm luôn ghé qua bệnh viện thăm chồng han hỏi thăm nom. Khi tiệm nails đóng cửa, chị lại ghé bệnh viện thêm từ 8PM đến 10PM nán lại cho đến lúc Hospital đuổi khách về cho bệnh nhân vào giấc ngủ. Chúng ta thử nghe những trăn trở âu lo và lòng yêu thương gửi gấm của Việt Hải như thèm khát niềm bình an và yêu thương với người vợ hiền.

If someday life turns me into a corner,
When I have a little choice of life,
My eyes may dimmer low,
My steps may not be strong,
I need to lean on someone,
To whom I would reach out to ask,
Take me through valley of sadness,
I would claim of you a promise,
Of thanks for your heart of gold,
It is simply because of this, my dear,
And it is you will be my love forever…
(Việt Hải, “Will You Love Me Still”, February 27, 2003)

Câu chuyện tình của Việt Hải và Lệ Hoa cũng có nhiều chi tiết rất thơ mộng. Việt Hải từng lãng mạn đến độ bất ngờ bay qua Đài Bắc để tìm gặp người yêu trong chuyến du lịch của nàng. Khi đến nơi, đã trễ vì nàng và các chị em đã sang Thái Lan. Việt Hải tức tốc dò tìm chi tiết, bay tiếp sang Thái Lan, để rồi tìm được đến gõ cửa tận phòng khách sạn của người yêu, và được Lệ Hoa chào đón bằng những giọt nước mắt nhớ thương, cho bao phiền muộn và hiểu lầm qua đi. Tại Thái Lan với biển đẹp, cát trắng và những hàng dừa thơ mộng cặp tình nhân đã vui chơi trong hạnh phúc. Trên bờ biển, Việt Hải viết hàng chữ trên cát “ VH & LH 06/1984”. Sóng biển tràn vào xoá đi “06/1984”, Lệ Hoa mĩm cười viết lại “Forever” thay vào các con số vừa bị xoá, thành ra “VH & LH Forever”. Và nơi bờ biển thơ mộng đó khi Việt Hải ngỏ lời trăm năm, Lệ Hoa mỉm cười chỉ vào hàng chữ và sung sướng gật đầu.

Một bài thơ khác của Việt Hải viết cho Lệ Hoa có lời lẽ chân thành như sau:
Em về giấc ngủ cô đơn,
Ðể anh thao thức, chập chờn đêm thâu,
Da em là lụa Tô Châu,
Mắt em như thể trân châu ngọc ngà,
Môi hôn má thắm mặn mà,
Hoa đăng nét mặt thật thà ngây thơ,
Em ơi hãy ngủ như mơ,
Anh ru em ngủ đơn sơ miệt mài,
Say mê giấc mộng thiên thai,
Cho anh hạnh phúc trọn ngày bên em.
(Việt Hải, Giấc ngủ cô đơn)

Khi Việt Hải bị stroke lần thứ hai vào năm 2003, mỗi ngày tôi liên lạc với Lệ Hoa khi chị ghé thăm chồng mỗi sáng để trao đổi tình hình sức khoẻ của Việt Hải. Sau đó tôi thông báo diễn tiến bệnh tình của anh trên mạng với nhóm sáng tác thơ văn MĐV. Mỗi ngày qua các chi tiết bệnh tình tôi còn như được thố lộ thêm nổi âu lo của một người vợ với 2 con còn quá nhỏ và áp lực từ bốn bề đến nỗi chị không còn 1 tí thời giờ gì cho chính riêng mình nữa. Có một điều là tôi và chị từng nói chuyện điện thoại không biết bao nhiêu lần, mà mãi năm 2008 mới gặp nhau lần đầu, khi tá túc tại nhà anh Tạ Xuân Thạc tại Houston trong kỳ hội ngộ của nhóm TMC. Sau lần stroke thứ nhì của Việt Hải, nhóm thân hữu chúng tôi từ San Diego, Irvine, Little Saigon cùng kéo nhau mười mấy mạng trong 3 chiếc xe van nối đuôi lên bệnh viện vùng Thousand Oaks thăm Việt Hải. Lúc ấy anh đã hồi tỉnh nhưng chưa phát âm được, tất cả liên lạc chỉ là ra dấu và gật đầu. Tôi nghỉ tấm lòng của bè bạn đã giúp anh thêm năng lực phấn đấu, vì bạn bè còn đó, vẫn thương quý mong anh mau hồi phục.

Sau này khi Việt Hải cùng anh Tạ Xuân Thạc và nhà văn Doãn Quốc Sỹ thành lập Văn Đàn Đồng Tâm, chính anh Tạ Xuân Thạc là một thầy thuốc hiệu quả nhất giúp Việt Hải phục hồi tiếng nói. Anh Thạc thường xuyên liên lạc Việt Hải bằng điện thoại hằng ngày thăm hỏi, bàn việc. Nhờ đó Việt Hải sử dụng tiếng nói liên tục. Lúc đầu Việt Hải phát âm khó khăn, nhưng với cố gắng phi thường dài theo năm tháng phấn đấu, anh đã phục hồi được khả năng phát âm gần như trọn vẹn. Dạo trước tôi không hiểu hết những lời Việt Hải nói qua điện thoại, giờ đây tôi có thể nghe và hiểu, không còn vấn đề nữa.

Theo dòng thời gian, giờ đây gia đình Việt Hải là một tổ ấm đầy hạnh phúc. Hai cháu trai Hải Việt và Hải Nam giờ đã thành hai thiếu niên văn võ song toàn, vừa học giỏi về văn hoá vừa trau dồi võ nghệ, đã là Huấn Luyện Viên Hoàng Đai của môn võ thuật Thiếu lâm Kienando và thụ huấn thêm kỹ thuật của môn phái Vovinam. Ngoài ra hai cháu còn chơi trong ban nhạc.

Hải Nam, Việt Hải, Lệ Hoa, Hải Việt

Hải Nam trong ngọn phi lôi cước ngoạn mục

Hải Việt trong ngọn phi cước bay bổng nunchaku

Hải Việt, Hải Nam trong ban nhạc

Trong tình bạn tôi quý Việt Hải vì một điều nữa, thân phụ của anh là một niên trưởng khả kính trong giới SQ Hải Quân. Việt Hải viết về thân phụ mình với lòng yêu thương cha vô bờ bến, và hình ảnh người cha là ánh hải đăng giúp anh noi gương phấn đấu trong cuộc đời. Hãy lắng nghe Việt Hải kể về Cha mình:
“Cha tôi có sức
khoẻ dẻo dai, bền bỉ, tôi nhớ ông tập luyện võ thiếu lâm, thái cực quyền, hít thở khí công và tập chạy bộ. Hồi tôi còn nhỏ có những sáng sớm chủ nhật ông và tôi chạy bộ tàng tàng từ góc đường Cường Để và Lê Thánh Tôn gần bến Bạch Đằng ngược về hướng đường Thống Nhất để vào Sân Hoa Lư, rồi chạy nhiều vòng trong đó, tôi chạy lẽo đẽo theo sau mà đôi chân gần như rã rời, lứa tuổi lên 9 hay 10 của thời còn non nớt. Cha tôi vẫn tiếp tục chạy và hít thở điều hoà vòng cái sân vận động này, tôi mệt lả cứ tà tà tiếp tục cuốc bộ quanh sân sau khi cảm thấy mình hết xí quách. Đoạn ông chạy băng qua mặt tôi, bằng cử chỉ trìu mến ông xoa nhẹ lên đầu tôi và nói vọng theo: "Hãy ráng lên con!". Vâng, câu nói tuy tầm thường như vậy mang nhiều ý nghĩa đặc biệt với tôi sau này khi trưởng thành. Khi đi học võ ra giao đấu bị trúng đòn của đối phương, hay giao đấu tennis nếu có thua phải về luyện lại, hãy ráng lên và ráng lên,... Rồi oan khiên khi hai mùa thu năm ấy tôi bị hai con quái vật "Celebral Hemorrhage Stroke", tức chứng tai biến vỡ mạch máu não đốn tôi ngã quỵ như một võ sĩ bị hạ đo ván, tôi nhìn 2 cháu con trai tôi, tôi nhớ đến lời khuyên năm xưa của cha tôi "Hãy ráng lên con!" và tôi cố gượng đứng dậy cho các con tôi hiểu rằng cha chúng sẽ luôn cố gắng và không bỏ cuộc.

Việt Hải (đứng sau cha, áo trắng) với Ba Mẹ cùng các anh em

Những kỷ niệm thời niên thiếu với cha tôi vẫn đong đầy trong trí nhớ. Khi cái thuở mới đi học ông là người gò tay cho tôi tập viết, ông hướng dẫn tôi những bài toán đố khó khăn với tâm trí thơ ấu tôi tại bậc tiểu học. Cha tôi là người đầu tiên dạy tôi viết và phát âm từng câu Anh ngữ và Pháp ngữ. Khi đau yếu, cha tôi phát thuốc cho uống, những viên thuốc nhức đầu hay cảm cúm đầy ân tình của thời xa xưa đó đã tạo cho tôi cái tiền lệ để sau này tôi phát thuốc lại cho các con tôi. Ngày lễ Cha kể về Cha, nhớ về Cha, tri ân Cha với những ân tình phụ tử vốn nồng nàn, vốn thiêng liêng, hay để nhớ về dĩ vãng cũ vẫn sống mãi và thật đẹp trong tôi.
Năm 1963 khi ông sang học tại Mỹ, ông gửi về cho gia đình một bức hình chụp ông cùng 3 người bạn đồng
khoá của (1) hải quân hoàng gia Úc, (1) Đan Mạch và (1) Hy Lạp tại cây cầu sơn đỏ Kim Môn (Golden Gate). Bốn người thanh niên trong bộ lễ phục hải quân đại diện cho QG mình và họ khoác thêm áo navy overcoat màu navy blue đang tươi cười rạng rõ trước ánh ban mai của mùa Xuân chan hoà tại vịnh San Francisco, mặt sau ông ghi vài dòng chữ mà nét chữ ông viết quen thuộc và trân quý trong ánh mắt tôi: "Hải con thương,Ba hy vọng sau này con có dịp sang đây để nhìn thấy cái kỳ quan Golden Gate Bridge này của thế giới. Nó thật hùng vĩ con à. Ba TPD".
Hôm sau tôi mang vào lớp học khoe ngay với các bạn học, mà cả bọn nhóc tì của tôi xuýt xoa. Có đứa bảo: "Ba mày le thế!". Tôi cười tít mắt vì "tuổi trẻ thích lấy le đấy". Thật ra chúng tôi chả đứa nào dám ước mơ xa vời như chuyện thần tiên đặt chân đến một xứ giàu có mà lại xa xôi, thì cái ước mơ đặt đôi chân nhỏ bé lên
vỉa hè gần chân cầu Kim Môn của San Francisco vốn là chuyện thần thông, hoang đường. Nếu có mơ thì bọn nhóc chúng tôi chỉ dám mơ ước được có một lần bước lên phi cơ để xem bên trong nó như thế nào và có được cái cảm giác mình ra sao khi nó bay trên mây thôi thì chúng tôi hả dạ lắm rồi.
Sau này ông được thả ra sau khi bị tù đầy tại miền Việt Bắc 13 năm, ông sang Mỹ sau gần 30 năm mà ông đã đến xứ này. Mùa hè 1993, tôi chở ông lên San José thăm các bạn ông, xong tôi đưa ông ghé thăm bên nhà vợ tôi tại Sacramento, trên đường về lại trùng hợp ngay Father's Day, tôi đánh đường vòng qua San Francisco trước khi về lại Los Angeles. Tôi cho xe đừng tại công viên khu rest area ngay chân cầu Kim Môn. Hai vợ chồng tôi trong bộ đồ sweat-suit và khoác áo chiếc áo tennis jacket. San Francisco vào 3 giờ chiều có gió lồng lộng lùa trên mặt biển thổi lạnh cóng chân tay dù là mùa hè nắng vẫn còn nhiều, nắng chiều chiếu xuống dòng nước biển xanh. Ánh mặt trời chiếu sáng từ hướng Oakland cho thấy cả vùng trời bao la quanh vịnh thật đẹp mắt. Dáng của Ba tôi lúc này trông quá già, ông ốm yếu, hom hem trong nỗi ngậm ngùi của tôi, ông khoác chiếc áo pardessus đen phủ kín người để chống lạnh, tôi ôm cha tôi khi máy ảnh liên tục bấm hình do vợ tôi làm phó nhòm. Tôi kể lại cho cha tôi nghe bức hình năm xưa mà ông gửi với lời ước mơ nếu tôi có dịp đến nơi đây để chiêm ngưỡng một kỳ quan thế giới, và vì chuyến đi đường vòng xa xôi này chỉ đưa cha tôi về lại dĩ vãng của ngày xưa mà ông đã quên lãng. Chuyến đi lại may mắn diễn ra đúng ngày lễ dành cho Cha hay ngày Lễ Cha, tôi bắt tay ông, xiết nhẹ trong nỗi hạnh phúc và hôn lên bờ vai gầy guộc của ông thay cho lời chúc mừng: Happy Father's Day.” (Việt Hải, “Ân Tình Người Cha”)

Sau 14 năm tích cực tham dự diễn thuyết trong hội Toastmasters International tại Texas và California, tôi có thói quen thâu thập và cất giữ các bài diễn văn mà tôi yêu thích. Có một bài diễn văn mà tôi rất quý của Steve Jobs, người sáng lập công ty Apple Computer. Bài diễn văn có tựa đề “Bạn Phải Tìm Thấy Điều Bạn Yêu Thích”, là lời nhắn nhủ của diễn giả danh dự Steve Jobs trong buổi lễ Tốt Nghiệp của trường Đại Học danh tiếng Stanford vào tháng 5, 2005. Đoạn cuối bài diễn văn Steve Jobs kể lại câu chuyện, kinh nghiệm, và cái nhìn của ông về sự chết như sau:

“Khi tôi mới 17 tuổi, tôi có đọc được một danh ngôn đại loại là: “Nếu bạn sống mỗi ngày như là ngày cuối đời bạn, dần dà đời bạn sẽ khá hơn lên.” Câu danh ngôn này để lại một dấu ấn trong tôi, rồi suốt 33 năm qua mỗi sáng tôi đều nhìn vào gương và tự hỏi mình: “Nếu hôm nay là ngày cuối cuộc đời tôi, tôi còn ham muốn làm những gì tôi sắp làm hôm nay không?” Mỗi khi tôi trả lời “Không” liên tiếp chừng tuần lễ, tôi tự biết tôi cần phải thay đổi một cái gì đó.
Luôn tự nhủ là tôi sẽ phải chết sớm thực là một tuyệt chiêu, nó giúp tôi nhiều phen khi phải làm những quyết định quan trọng trong đời. Bởi chưng mọi thứ quanh ta – từ những trông mong ngoại cảnh vào khả năng của ta, những tự mãn cùng nỗi sợ hãi bị làm mất thể diện hay sợ thất bại – những điều như trên chẳng còn nghĩa lý gì nữa khi ta chạm mặt tử thần. Lúc đó chỉ còn những gì tối hệ trọng mới đáng kể. Luôn ghi nhớ rằng tôi sắp chết là cách tốt nhất tôi dùng để tự đối phó mỗi khi tôi nghĩ tôi sắp thua một ván bài nào đó. Khi bạn bị dồn vào chân tường và bị lột trần như nhộng, còn gì mất nữa đâu và bạn an nhiên nghe theo tiếng lòng mình.
Khoảng một năm về trước, tôi bị chẩn đoán là mắc bệnh ung thư. Tôi được chụp quang ảnh ngay từ khoảng bẩy giờ rưỡi sáng hôm đó, kết quả cho thấy rõ ràng tôi bị bướu ở
tuỵ tạng (pancreas.) Lúc ấy tôi cũng chả biết tuỵ tạng là cái gì. Các bác sĩ bảo tôi rằng loại ung thư này thuộc loại vô phương cứu chữa, và rằng tôi chỉ còn sống được cao lắm là từ ba tới sáu tháng mà thôi. Bác sĩ khuyên tôi nên về nhà “giải quyết chuyện gia đình cho có trước sau,” hàm ý bảo tôi về nhà chuẩn bị chết đi là vừa. Đối với tôi, điều này có nghĩa là tôi phải gom cho gọn lại những gì tôi sẽ dạy bảo cho lũ con tôi trong mười năm để chỉ dạy dỗ trong vòng vài ba tháng. Điều này cũng có nghĩa là tôi sẽ phải bạch hoá mọi chuyện trong nhà để người thân của tôi còn biết đường lo liệu. Điều này có nghĩa là tới giờ đi chào vĩnh biệt mọi người.
Tôi đã sống với cái chẩn đoán đó suốt ngày. Tới tối,tôi được làm một phẫu thuật nhỏ, người ta thọc một ống nội soi qua cổ họng, xuống dạ dày tới ruột, rồi cho một kim chích vào
tuỵ tạng để lấy vài tế bào của cục bướu. Tôi được chích thuốc gây mê, nhưng vợ tôi cũng có mặt ở phòng mổ đã kể lại rằng khi các bác sĩ khám nghiệm các tế bào này qua kính hiển vi, họ đã reo lên vì cục bướu của tôi thuộc loại bướu tuỵ rất hiếm và có thể khỏi bịnh được sau khi đã lấy nó ra. Tôi đã trải qua cuộc phẫu thuật ấy và khỏi bịnh rồi.
Có lẽ đây là lần tôi cận kề cái chết nhất trong đời, tôi mong sẽ chẳng phải trải qua một thử thách nào tương tự trong ba bốn mươi năm tới. Đã trải qua kinh nghiệm sinh tử này, tôi muốn nhắn nhủ các bạn đôi điều:
Chẳng ai muốn chết cả. Ngay cả những ai muốn lên Thiên Đàng cũng không muốn phải chết trước rồi mới tới nơi ấy. Tuy vậy, sự chết là điều mà ai cũng sẽ phải trải qua. Chưa ai vượt thoát khỏi sự chết. Và điều này thì cũng tự nhiên thôi, bởi chưng Sự chết là sáng chế tuyệt vời, độc nhất vô nhị của Sự sống. Nó là tác nhân làm thay đổi Sự Sinh Tồn. Nó dẹp bỏ đi những gì cũ kỹ để dọn chỗ cho cái mới tiếp vào. Ngày hôm nay các bạn chính là cái mới đấy, nhưng một ngày nào đó trong tương lai gần, các bạn sẽ lão
hoá và sẽ bị sa thải khỏi địa cầu. Xin lỗi các bạn vì tôi có vẻ như cường điệu hoá quá đáng, nhưng đây là sự thật.
Vì sự hiện hữu của các bạn chỉ có hạn, bạn chẳng nên sống cho người khác. Đừng bị bó buộc bởi những giáo điều, vì chúng sẽ làm bạn sống với những khuôn khổ do người khác đặt ra. Đừng để những ý kiến của người khác làm nhiễu loạn cái tâm của bạn. Trên hết, hãy can đảm đi theo tiếng gọi của trực giác và khởi tự tâm mình. Những tiếng lòng này thật vi diệu vì chúng biết rõ bạn sẽ ra sao ngày sau. Mọi thứ khác trên đời chỉ còn là thứ yếu.
Khi tôi còn trẻ, tôi thường mua một quyển sách rất đặc sắc tên là “ Thư Mục Toàn Cầu“, sách này là một trong những sách gối đầu giường của thế hệ chúng tôi...Steward và Ban Biên Tập của ông xuất bản vài bộ “Thư Mục Toàn Cầu,” rồi khi ấn phẩm đã có vẻ thoái trào, họ cho in ấn bản cuối. Lúc ấy là vào khoảng giữa thập niên bảy mươi, khi tôi còn trẻ măng như các bạn bây giờ. Ở bìa sau ấn bản cuối này là một tấm hình chụp một con đường làng lúc sớm mai, cái kiểu đường làng làm bạn muốn nhảy dù đi chơi xa nếu bạn thuộc típ người mạo hiểm. Dưới hình là dòng chữ: “Stay Hungry. Stay Foolish.”(“Giữ lòng thèm khát, và một thái độ liều dại”)
Đó là lời chúc giã từ của ban biên tập trước khi đình bản bản sách vĩnh viễn. Tôi luôn tự chúc mình như vậy. Giờ đây, khi các bạn sắp tốt nghiệp để bắt đầu một đời sống mới, tôi cũng chúc bạn như vậy. Stay Hungry. Stay Foolish.”

Tôi thấy đây chính là điểm chung giữa Steve Jobs và Việt Hải. Cả hai luôn luôn “Stay Hungry, Stay Foolish”. Cả hai đang làm rất nhiều việc mà con người bình thường không làm được. Họ đạt kết quả bất chấp những khó khăn thể xác.

Một điều tôi học hỏi qua năm tháng, là người nào có thể làm mỗi giây phút tràn ngập một nội dung sâu sắc, thì người đó sẽ kéo dài vô tận cuộc đời mình. Trí tuệ của con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn nhân tính trưởng thành từ bão táp. Đi qua cuộc đời chúng ta không khỏi ghi nhận và cám ơn vì có những người bạn đã quan tâm và yêu quý tha nhân. Vì họ nâng đỡ và khuyến khích bạn bè. Vì họ truyền năng lực cho người khác, hơn chính bản thân họ. Vì họ làm nên sự khác biệt, cho cuộc sống xung quanh tốt đẹp hơn. Đối với những người bạn này chúng ta có hạnh phúc của kỷ niệm quá khứ, an lạc hiện tại, và ước mộng đẹp của tương lai.

Có những người đi qua thời gian mà không để lại dấu vết gì cả. Riêng Việt Hải để lại nhiều dấu chân trên mặt đất và dấu ấn trong tim bạn bè. Anh luôn chiếm ngự trong lòng tôi nhiều trân quý của tình bạn và lòng ngưỡng mộ chân thành. Mong rằng Việt Hải luôn có đủ hạnh phúc để vui vẻ; đủ thử thách để mạnh mẽ hơn; đủ niềm vui nỗi buồn để trưởng thành hơn; và đủ sức sống, để sáng tạo. Mong anh sẽ đẩy mạnh thật nhiều cho khu vườn Di Sản Văn
Hoá Việt của chúng ta nở thật nhiều hoa ngát thơm muôn sắc.

Cát Biển (Oct 2009)



Cát Biển - Hiện cư ngụ tại Philadelphia, PA. Cựu Sĩ Quan Hải Quân Khóa 20 Nha Trang. Hoạt động thi, văn, nhạc trong: Ban Biên Tập Hồn Quê, Trinh Nữ, Chuồng Gà, Cây Me, nhóm Việt Bút (Viết Về Nước Mỹ), Văn Đàn Đồng Tâm, Em Ca Hát, Nhạc Việt, The Music Club (TMC). Nhiều năm tích cực đi diễn thuyết trong hội Toastmasters International tại Texas và California; Giải Nhất (Region 3 Championship of Public Speaking) 1986. Xướng Ngôn Viên Truyền Hình Việt Nam do nhóm Người Việt chủ trương (cùng với Trầm Tử Thiêng), Nam Cali 1986-1989. Tác phẩm đã xuất bản: Thi tập Trùng Khơi Sóng Vỗ (2002), Tình Thơ Áo Trắng (2003).

*

Thursday, September 24, 2009

Nghe Gió Trùng Khơi

0 comments

Nghe Gió Trùng Khơi

Còn mây hoang dại giữa đời
Còn ta góp lại tơ trời vấn vương
Và em ngàn dặm miên trường
Bờ vai kỷ niệm mùi hương dõi tìm

Còn đây đỉnh núi vực tim
Còn sương mai đọng ưu phiền luyến lưu
Trả cho nhau những phù du
Trả xuân mộng mị trả thu nồng nàn

Rừng xưa lá chạm xốn xang
Nhớ nhung cũng đã đượm vàng trăng mơ
Đêm nghe thao thức mong chờ
Tiếng chân nhẹ bước bên bờ dấu yêu

Còn đây huyền thoại thiên kiều
Giòng sông gợn sóng kể điều thiết tha
Còn mưa rơi những ngọc ngà
Nghe như gió giấc nam kha ngỡ ngàng

Cát Biển
9-23-2009

Visitors Count

SEO Services

About Me

My email: sn68pbc@yahoo.com -- My Homepage: www.catbien.com