Sunday, September 6, 2009

Một Thời Bên Phố

0 comments


Một Thời Bên Phố

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

(Thôi Hiệu)

Thế giới đang chuyển mình bước vào một thiên niên kỷ mới. Giữa nhịp sống dồn dập với bao nhiêu phát minh mới của khoa học, bao nhiêu đổi thay kinh tế nhằm cải tiến nếp sống con người, ai đó vẫn còn đang dừng lại ngóng tìm bóng dáng quê hương như lời thơ của Thôi Hiệu mà đã được Vũ Hoàng Chương gửi gấm nỗi tâm sự miên man trong lời kêu ai oán cuối quãng đời người thi sĩ: "Gần xa chiều xuống đâu quê quán? Chớ giục cơn sầu nữa sóng ơi"...

Có những hình ảnh nào đó đã ghi khắc sâu đậm trong tâm tư mà mình không thể nào quên được. Những kỷ niệm thân thương như mảnh lụa nhung êm ả quấn quyện vào tâm khảm, chiếm một chổ dịu dàng yêu dấu nhất của ký ức con người mà ta mang theo cả cuộc đời để thương và để nhớ...

Vào khoảng cuối thập niên 50, một biến cố đáng kể đến với gia đình chúng tôi. Chúng tôi phải dọn khỏi phố vườn bông (được gọi là "bùng binh") Phan Thiết trên đường Lê Văn Duyệt, bỏ lại đằng sau mớ kỷ niệm đáng yêu. Bao nhiêu hình ảnh thân thương với các bạn bè nhỏ bé của tuổi ấu thơ, với các chị và 2 cô em gái chúng tôi tại căn nhà ấy, tức là tiệm may Phan Sinh kế bên nhà hàng Nam Thạnh Lầu (mà mọi người vẫn gọi là "quán Hai Mọi", cách vài căn từ tiệm may Mai Xuân Trượng), bỗng nhiên trở thành quá khứ. Một cái gì hụt hẫng trống vắng xâm chiếm cả tâm hồn ngây thơ khờ dại trong tôi... Thời gian sau, khi tôi có dịp trở lại căn nhà củ lần đầu tiên, tôi thấy mình là một kẽ xa lạ đứng ngỡ ngàng bên lề đường, nhìn thoáng vội vã vào bên trong căn nhà củ như sợ ai bắt gặp. Căn nhà thân yêu đó, bây giờ được mang tên mới là tiệm Huê Lợi với các thùng đinh ốc và vật liệu xây cất trông thật kỳ lạ được bày bán từ trong ra ngoài. Các dấu vết thân yêu các tiếng cười tiếng ca xưa không còn nữa, dầu nắng chiều vàng mềm mại vẫn còn lung linh từ mái hiên khu hàng xóm củ. Hương thơm từ không gian cao như đã ngừng rơi đâu đó...Những ấn tượng thời niên thiếu ấy đã theo dòng đời trôi vào quên lãng từ hơn 40 năm qua. So ra, nó chỉ là một phần gì rất khiêm nhượng, quá tầm thường, thật nhỏ bé, so sánh với những mất mát đau thương nghiệt ngã, những đòn thù mà con người VN đã phải hứng chịu sau 1975. Nhưng đống tro tàn kỷ niệm ấy phải chăng chỉ là lớp khoác che đậy những tâm tư vẫn còn âm ỉ cháy trong lòng kẽ tha hương, chỉ chờ ai đó khơi lại để trôi về, như người xưa ngóng đợi một mình bên bờ sông vắng vì ai đó đã lỗi hẹn...

Vào những tháng ngày thơ ấu trong trí nhớ non kém mà tôi còn có thể hình dung được, cả phố Phan Thiết bình dị vừa chứng kiến nhiều dâu bể đổi thay trong nước. Vua Bảo Đại xuống, Ngô Đình Diệm lên thay, sau một cuộc bầu cử "trưng cầu dân ý". Tân Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người từng giữ chức Tuần Vũ Bình Thuận lúc mới tròn 21 tuổi, một chức vụ tương tự như Tỉnh Trưởng sau này. (Sau cuộc đảo chánh năm 1963, giấy khai tử của ông có kê khai chức vụ của ông là "Tuần Vũ Bình Thuận" chứ không phải là "Tổng Thống VNCH"). Đồng bạc mới VN thời đó đó có giá trị đáng kể. Chỉ cần hai cắc bạc chúng tôi có thể mua được cả một rổ ốc ruốc về để chị em chúng tôi "lể" ăn mệt nghỉ. Tôi nhớ lúc chánh phủ mới vừa cho lưu hành tiền mới, tôi cầm đồng bạc mới do má cho, đi mua món trái cây trị giá năm cắc. Bà bán hàng không thối lại năm cắc mà lại bà xé đôi đồng bạc giấy trả cho tôi một nữa vừa được xé ra! Trong hoang mang tôi về kể với các chị và ba má, thì mới hiểu lúc đó tân chính phủ vừa nhậm chức chưa có tiền cắc mới để cho lưu hành.

Dạo ấy MTGPMN vẫn còn trong trứng nước, chưa được Đảng CS Bắc Việt cho chính thức ra đời, nên các tuyến đường xe đò và các chuyến xe lửa đi Sài Gòn hoặc ra Nha Trang chưa bị phá hoại, vẫn còn lưu hành thông suốt. Thành phố hiền hoà quê tôi được hưởng vài năm yên lành trước khi thực sự chứng kiến những thãm cảnh của chiến tranh làm tan đi mất những hi vọng về hoà bình của người dân trong phố. Thời gian ấy tôi được may mắn theo ba tôi mấy chuyến đi Sài Gòn bằng xe lửa. Xe khởi hành rời ga Phan Thiết khoảng chừng sập tối, mình có thể ngủ một giấc cho đến khi xe ghé các trạm khuya thức dậy ăn cháo gà, rồi đến cổng ga Sài Gòn (công trường Quách Thị Trang sau này) với một không khí hấp dẫn thật khác lạ do các tiếng xích lô máy nổ bình bịch, dù lúc trời chỉ vừa tờ mờ rựng sáng. Thành phố Phan Thiết bình dị trong các năm có thể nói là thanh bình ấy thật đáng yêu với các phiên chợ Tết nhộn nhịp, và khắp phố phường dấu vết của hạnh phúc thấp thoáng ló dạng đâu đây. Ba tôi không còn đi lưu diễn với đoàn hát nữa, về lại Phan Thiết lập nghiệp với tiệm may Phan Sinh. Tuy nhiên các diễn viên củ trong đoàn hát như cô Út, chú Tao Ngộ, chú Võ, v.v... vẫn ghé thăm nhà tôi để cùng đờn ca xướng hát các bài bản ưng ý của thời đi lưu diễn. Thỉnh thoảng ba tôi vẫn ngân nga những bài ca xưa, cả những khi ông đang cắt vải thoăn thoắt theo đường phấn kẻ màu xanh với chiếc kéo cắt thật bén và lớn, hoặc lúc chân đang đạp đều nhịp chiếc máy may với đôi tay ông lèo lái các đường vải. Các máy may khác trong nhà chạy đều theo nhịp đạp của các thợ chính, thợ phụ, hoặc các anh còn đang tập sự. Các anh thợ thanh niên thì dạn dĩ hay ca góp vui nối tiếp theo ba tôi, hoặc có người ra câu đố, hoặc kể chuyện vui. Các người giúp việc đôi khi cũng trở thành đề tài cho các thanh niên giỡn phá. Các chị thợ thường chỉ phụ đơm khuy và kết nút, tham gia cuộc vui một cách kín đáo hơn bằng các tiếng cười dòn. Chị Sáu thường bị các anh thợ chiếu cố trêu ghẹo suốt ngày vì chị có nét xinh ở tuổi dậy thì. Sau giờ làm việc, các anh chị vẫn còn tiếp tục kể chuyện vui hoặc đờn ca, có khi còn ngũ lại đêm trong 1 phòng lầu dưới. Mé sau căn nhà, trên lầu trên có một bức tường bằng gạch, được xây hơi kiểu cọ, chừa khuyết một vòng tròn khá lớn như vầng trăng khiến cho người trong nhà có thể nhìn được ra sân thượng ở mé sau. Chị cả của chúng tôi, chị Hoàng Anh, thường leo ngồi vào vòng trăng đó, thả chân đong đưa vừa ca các bài như Ánh trăng trắng ngà, có cây đa to... Dạo ấy chị Anh đã là 1 thiếu nữ cao và thon gầy trong chiếc áo dài trắng. Trong khi chị Hoàng Minh (tức chị Nam) vẫn còn học trường Nữ bậc tiểu học, chị Anh đã vào học trường Phan Bội Châu, được ba má tôi mua cho một chiếc xe đạp mà lúc nào chị cũng giữ bóng loáng. (Lúc sau, theo phong trào Velo Solex, chị cũng có 1 chiếc Velo thay cho xe đạp). Chị theo sát ba tôi từ những dịp đi lưu diễn hay cả những lúc ba đi đá banh bên Sân Vận Động. Các cầu thủ đá banh mặc quần shọt, áo may ô và mang giầy đinh. Có lần trên sân banh, khi chị Anh đang giữ áo quần của ba tôi vừa thay ra, một thanh niên đến nói với chị là "Ba của cô kêu tôi đến nhờ cô đưa quần áo cho ổng thay"... Chị Anh bèn đưa hết quần áo, có cả bóp và tiền bạc. Đến khi ba tôi đá banh xong, trở lại lấy quần áo đi thay, mới biết chị Anh đã bị kẽ lạ gạt lấy hết quần áo giấy tờ. Em Hoàng Yến kế tôi hãy còn bé chưa đi học, và em Thanh Hà chỉ mới chập chững biết đi. Trong các bài ca mà tôi nghe ba tôi ca, có một bài với lời thật ngộ nghĩnh khiến tôi theo hỏi và được ba cho biết là do bác Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh sáng tác, thời bác còn làm bầu gánh hát - thời thật xa xưa trước khi bác trở thành Dân Biểu. Bài hát này các chị em chúng tôi sau này đều thuộc lòng (và trở thành bài ca chung trong những dịp vui mỗi khi gia đình hội ngộ):
Mau vô trỏng, cúi đầu thưa với ổng
Rằng tôi đợi ngoài cổng
Rồi trở ra mau nói, để cho tôi thăm hỏi
Kẻo chờ lâu cẳng mỏi
Ông quan ấy thân với tôi lắm đấy
Tôi với ổng họ Trình
Trình ấy làm Quan
Còn Trình này thì bán quán giữa rừng "hoang"
Quán với Quan cũng gần
Quan với Quán một vần
Vì Trình ấy tuổi Dần có phần quan lớn
Còn Trình này tuổi Tý con chuột con, ở đầu non, nhưng mà ngon...

Những lúc cả nhà theo tiếng đờn của cha tôi quây quần ca hát, mẹ tôi thỉnh thoảng cũng ca góp một bài với lời lẽ thật xa xưa "Dạ dạ dập đầu ... Thưa chuyện với chị dâu ..." Có một bài ca rất dài mà lủ chúng tôi rất thích nghe giọng của Ba ca với những hơi ngân, những nhịp ngắt với tiếng song lang gỏ nhịp tài tình của điệu Xàng Xê, hoặc khúc lái ngân nga lên xuống giọng thật đặc biệt, khiến cho người nghe cảm thấy như có một làn mây ấm cúng nào đó đang vây quyện khắp không gian:

Hậu đô Bắc Hà,
Vào triều Lê Cảnh Hưng năm thứ 46,
Hân hạnh được cung nghinh Đức Bình Bắc Tướng Quân Nguyễn Huệ
Thống lãnh đại đội binh hùng
Hát khúc khải hoàn vào cổ luỹ Thăng Long
Sau khi bình giặc đã thành công
Nhưng vì thấy Lê Trịnh tranh hùng muôn dân đồ thán
Cho nên Nguyễn Tướng Quân phải diệt Trịnh phù Lê
Tảo trừ bọn Trịnh tư quyền là Trịnh Tứ Phương
Hạ thành sơn nam
Mới thấu nhập kinh đô vào Nam giao đài bái mạng vua Lê Hiến Tôn
Vì mộ tài danh viên dũng tướng thiếu niên anh hùng lỗi lạc
Chắc có lẽ sau này phải nhờ quyền bảo hộ của Tây Sơn
Thế cho nên Hiến Tôn Hoàng Đế mới định gả trung thần
Là lịnh ái nữ Công Chúa Ngọc Hân
Kịp đến n ngày mồng 3 tháng 8 năm Bính Ngọ
Vua Thái Đức nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc ngự ra Bắc Hà
Bèn cùng tân quân Lê Chiêu Thống thừa nghinh trọng rất là uy nghi
Phán rằng "Từ khi phụ thân trẫm đây thất lộc
Trẫm lên kế tự ngôi trời
Đồ lao cộng tác với bá quan
Trẫm những mong rằng trăm họ được bình an
Nhưng Trẫm vẫn biết rằng tuổi Trẫm còn thiếu niên
Mà việc triều đình quá ư to tát
Bởi thế cho nên mà vận mạng của Lê triều
Chẵng may mà gặp cơn nguy biến
Trẫm chỉ nhờ lượng hải hà và ơn tư trợ
Của Tây Sơn quân
Lấy đức bủa khắp bốn phương
..................................................

Sau những quãng đời khó khăn vật vã truân chuyên với cuộc sống từ những ngày Tây về ruồng bố bắt dân, rồi chuyến lưu lạc sang tận Cam Bốt học may, cha mẹ chúng tôi vừa mới bắt đầu gầy dựng được một cửa tiệm may để sinh nhai với những điều tạm gọi là yên ổn của mái ấm gia đình, tuy đơn sơ nhưng tràn đầy hạnh phúc. Bỗng nhiên một hôm cần tiền, người chủ căn phố nhà chúng tôi đang ở trở về lại Phan Thiết và quyết định bán căn nhà thật gấp, chứ không cho gia đình tôi thuê nữa, mặc dầu thời hạn thuê mướn vẫn còn và công việc làm ăn của ba tôi đang đà phạt đạt. Vì giá bán căn phố quá cao cha mẹ tôi không đủ tiền để chồng mua căn phố ấy, gia đình chúng tôi đành phải quyết định dọn đi.


Trong khi chờ đợi dọn về căn nhà mới xây trước ấp Đức Nghỉa, gia đình chúng tôi về ở tạm khu Cồn Chà, nơi mà tâm trí nhỏ bé trong tôi có cảm tưởng cách xa khu nhà bên phố củ hằng diệu vợi, như thuộc về một không gian nào xa cách hẳn... Nơi chỗ mới xa lạ chúng tôi phải đi bằng xe đạp hoặc được Ba chở bằng xe gắn máy Sach thì mới về được đến phố Gia Long . Dầu chỉ ở mấy tháng, chúng tôi cũng đã có dịp nhìn thấy trực tiếp nếp sinh hoạt thay đổi của các bạn ghe mà nếp sống được gắn liền với các vụ cá...từ những lễ lộc của "Vạn", lễ cúng tế khi có cá ông "lỵ", những mùa cá rộ, mọi người bạn cá khắp xóm đều thắp đèn ra đường hì hục làm muối, vô thùng, hàn xì, khiêng vác, rầm rộ thâu đêm không ai mà không bận bịu làm lụng. Có cảnh tượng của một gia đình hàng xóm bên kia đường, đối với chúng tôi thật lạ lùng lẫn thương tâm. Gia đình ấy có một người cha say sưa liên miên. Họ có 2 người con trai, người con lớn đã lên 17 tuổi . Mỗi lần say sưa, người cha về đánh đập vợ con, nhất là cậu con cả. Ông ta lột hết quần áo người con lớn, lôi anh ta trần trùng trục ra giữa đường quất roi tơi tả bất kể nơi nào trên thân thể trước sự chứng kiến của đám người lớn nhỏ trong xóm tò mò đến xem...Sau mấy lần tiếp diễn cảnh đánh đập tàn bạo ấy, người con lớn vì nhục nhã, một hôm bỏ nhà đi biền biệt. Buổi tối khu cồn chà người ta có thể nghe văng vẳng tiếng biển vỗ rạt rào vòng vọng thật buồn hiu với những đèn đường héo hắt vàng vọt và mùi đất biển thoảng tanh mùi cá, thật khác với phố Lê Văn Duyệt nhộn nhịp mà tôi đã quen thuộc.

Những cảnh khá xa lạ đối với quãng đời nhỏ bé ngây thơ ấy khiến tôi nhớ và thương làm sao những ngày bên phố. Nhớ các bạn học tí hon lũ chúng tôi trường Bác Giáo Nhiều, kể cả những lần bắn "bì" (tức là giấy quấn thật cứng chắc, gập đôi lại để bắn bằng dây thun) với nhóm anh em Thuận và Hưng tiệm vàng Mỹ Quang (mà chị Tuyết Mai của tụi nó là bạn học thân với chị Anh của tôi và sau này làm phù dâu cho chị), những trò chơi "phóng bút" (dùng đầu sắt của cây viết mực chấm từng mắt cá tay và phóng ghim vào ụ cát) với các trẻ con hàng xóm. Thương những chiều nắng rọi nghiêng nghiêng từ mé nhà hàng Kim Sơn ngồi trước nhà nhìn sang công viên trước mặt chờ mẹ đi chợ về với chút quà, thương mùi thơm bánh mì Nghi Hưng mới ra lò nóng hổi được các trẻ em đi rao bán, thương những ly "siủ phé" ba và các tay mê đá banh như chú Bảy Đài, chú Buộc (sau này vì bất cẩn trong lúc đổ chì, chú bị mù 1 mắt), chú Tí Hoan, v.v... quây quần ngồi uống bàn bạc sau những trận đá từ sân banh về, hay thương mùi nem nướng và mùi bánh xèo thơm ngào ngạt từ quầy bánh xèo cố hữu của gia đình chị Quyệt, một người bạn thật dịu hiền của chị Nam (ba má chị đặt tên chị là Nguyệt, nhưng khi làm giấy tờ bị đánh vần sai đi, trở thành "Quyệt" ) bên hông tiệm vàng Đạt Thành mé tiệm Kim Sơn mà tôi tin vẫn là chỗ ăn nem nướng và bánh xèo ngon nhất...mà có lẽ ấn tượng đó sẽ còn mãi cho đến suốt cuộc đời.

Khu vườn bông dưới dốc cầu điểm Thiết trước căn nhà thân yêu ấy nơi tôi lớn lên đã là địa điểm chính của bao biến cố vui buồn của người dân tỉnh lỵ ... Khoảng trống rộng lớn từ phía bên nay là tiệm may Phan Sinh nhà tôi, đối diện bên kia đường là các tiệm Tân Lập, Lê Chính Ngữ bán xe đạp, và tiệm nước Nam Nhất Viên... sang góc xéo là quán nước Tân Phương Viên... và bên kia đường là tiệm vàng Đạt Thành đầu phố Gia Long... là một mặt bằng tráng nhựa khá lớn mà ta có cãm tưởng có công dụng tương tự như quãng trường Thiên An Môn thuộc Bắc Kinh của Trung Hoa. Chính tại nơi đây đã là nơi con Rồng hùng vĩ, mỹ lệ và thiêng liêng nhất của Phan Thiết trổ tài vùng vẫy trong các dịp lễ lộc hội hè. Tại nơi ấy những cuộc diễn hành, biểu tình, các xe hoa đều quy tụ về để chuyên chở các biến cố vui buồn của thành phố. Rồi những buổi chợ Tết thâu đêm cũng đều diễn ra bắt đầu từ khu cuối vườn bông ấy kéo lan dài khắp phố Gia Long, lần ra các hang cùng ngõ hẻm của khu chợ chính.

Thật là khó quên ngày lễ được gọi là Thỉnh Ông Đi Chơi, lũ trẻ chúng tôi nô nức đi ra đường xem giữa rừng người, cảnh tượng con Rồng uốn lượn theo trái Châu được vũ lộng xoay vần liên tục bởi một thanh niên lực lưỡng để dẫn Rồng quây quyện, cuộn các con Lân vào giữa, theo tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..." hùng dũng, tiếng chiêng "cheng...cheng..." ngân vang, tiếng tu huýt tíu tít điều khiển, tiếng chân người của đoàn Rồng to lớn, tiếng lục lạc từ thân Rồng lúc lắc theo nhịp chân chạy xào xạc reo vang khắp nơi, cùng xen lẫn các điệu trống Lân "cắc cá lắc cắc cắc... tùng tùng...." khi thì dồn dập, khi thì "xổ..." một tràng dài, khi nhịp đều "cắc tùng tùng... cắc tùng tùng..." lúc các con Lân chồng người lên cao để tung qua mình Rồng thoát khỏi vòng vây...

Vì một dịp tình cờ tôi có đến Chùa Ông để ngắm nghía một cách say sưa các chi tiết của con Rồng Phan Thiết, dầu không bao giờ tôi đủ can đảm đến quá gần vì sợ. Mình Rồng có cài hằng ngàn chiếc "vẫy" óng ánh. Một dịp nọ, có một trẻ lượm được một chiếc vẫy Rồng, tôi và các bạn tò mò đến ngắm nghía. Mỗi vẫy Rồng là một miếng gương tròn (cỡ gương thời ấy dành cho các phụ nữ mang theo để soi mặt). Mặt sau của các vẫy gương Rồng ấy có in tên của ân nhân bảo trợ. Đầu Rồng màu trắng, với nét thanh cao, hùng vĩ, có hai chiếc sừng cong cong khúc khỹu. Mủi Rồng nở nang tròn lớn như sẵn sàng để khè ra lửa, mỗi bên mũi có các râu cong cong. Rồng có chiếc lưỡi đỏ thè dài, với hàng râu cằm toả đều xuống mé dưới miệng, vừa xinh đẹp vừa mang vẻ huyền thoại kỳ bí của một linh vật khiến chúng tôi sờ sợ né xa, không bao giờ "đụng" vào ...


Cảnh tượng múa Rồng là cảnh của một linh vật đang đạp mây uốn mình quây lượn theo sự thu hút của trái Châu (tức là một bảo vật). Tục truyền khi nào có các linh vật Long, Lân. Qui, Phụng xuất hiện thì muôn dân sẽ hưởng được cảnh thanh bình hoan lạc. Trong tâm niệm người dân, cảnh Rồng múa như mang được hình ảnh thiêng liêng cao cả về gần lại để chiếu cố những khó khăn của thực tế cuộc sống. Mỗi khi Rồng múa, tôi vẫn còn nhớ đầu Rồng khá nặng cần phải có 3 thanh niên cùng gồng vác, một người mang chịu cây trụ chánh ở giữa, hai người kia mang 2 cây xéo chịu 2 bên. Mình Rồng là loại vải bố vừa chắc vừa mềm mại cho dể múa, màu sắc lộng lẫy nhưng không diêm dúa. Cách đều nhau giữa các khúc nối mềm mại bằng vải bố là hằng mấy chục khúc thân cứng cáp cho các thanh niên mang đội vào để lượn múa. Mỗi khúc thân Rồng có 1 sườn bằng nan mây, vừa vặn cho 1 người thanh niên nai nịt chịu ở lưng, vai và đai ở hông. Cứ vài phút người này mỏi lại có người khác vào thay thế. Lưng Rồng có dẩy Vi lởm chởm chạy dài từ đầu cho đến khúc đuôi. Cuối các chân Rồng với những móng vuốt nhọn là hình vẽ những cụm mây. Khúc đuôi cuối cùng của Rồng là những khía vi nhọn lỉa chỉa, khá cao, lắc lư khi múa, cũng có một cây trụ chính của đuôi do một người nai nịt ở hông và cầm chịu ở tay, và lại thêm 2 dây kéo bởi 2 người khác ở hai bên để múa lượn. Những ngày tôi còn bé theo xem hội hè đình đám, nghe tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..." của đội Rồng Phan Thiết hoặc tiếng trống dòn dả "Cắc cắc tùng..." của các đội Lân chùa Ông hoặc các đội Lân Mặt Xẹp (với tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm tùm...tùng tùng tùng, tùm tùm..." thật đặc biệt và kỳ dị), hay các đội Lân Sài Gòn (có leo cây trụ sắt thật cao và có múa võ) được mời về dự lễ Thỉnh Ông, chân tay tôi bổng trở nên bủn rủn, tim hồi hộp, vì bị thu hút mãnh liệt bởi các âm thanh kỳ diệu ấy ... Sau này nghe nói ở thành phố nổi tiếng nào như New York hoặc Singapore có các con Rồng rất hay và đẹp, tôi đều chú ý xem các hình ảnh để so sánh với con Rồng Phan Thiết. Và vẫn chưa tìm được các đối tượng đáng kể để mà so sánh...

Trong ký ức tuổi trẻ thơ ngây ấy tôi nhớ hình ảnh của các bạn trẻ con bên phố. Cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều, được gọi là thầy "Thẹo", là hầu hết lủ trẻ đường Lê Văn Duyệt dảy nhà tôi, và dảy phía bên kia bùng binh, tức đường Nguyễn Văn Thành. Cùng học chung trường thời ấy có con của các bác Vui Vui, bác Năm Phùng, tiệm Thành Kim, Mỹ Quang, Mai Xuân Trượng v.v...bên kia đường là con của bác Tân Lập, Lê Chánh Ngử... có cả hai chị em Thanh và Bạch cháu cô Nam Phong nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng phía trong tiệm billiard chú "Buộc" nữa. Bên phố Gia Long các tiệm Vĩnh Hưng, Phước Hưng, kéo dài đến tiệm chú Bé Vĩnh Lợi cũng đều gửi con học chung trường này... Sau ngày anh cả tôi mất lúc vừa 2 tuổi, mẹ tôi sinh chị Anh rồi chị Nam. Lúc sanh được con trai, người mình có tục lệ hay cho đeo khoen ở tai để khỏi bị ông bà "bắt", vì ngỡ là con gái (?). Tôi và Hiệp con bác Tân Lập đều rơi vào hoàn cảnh đó. Hiệp con bác Tân Lập (vẫn thường được các bạn bè thân yêu gọi là Hiệp Lé, sau này được người chú tập đánh trống, trở thành 1 tay trống xuất sắc), khi đi học vỡ lòng vẫn còn mang khoen ở tai. Bây giờ mỗi khi sờ lên cuối vành tai trái tôi vẫn còn dấu lỗ tai đeo khoen ngày xưa, mặc dầu lỗ ấy đã được lấp kín từ lâu. Trường thầy Giáo Thẹo rất nghiêm và nổi tiếng đánh học trò rất đau. Viết bằng tay trái là bị khẽ tay. Nói chuyện trong lớp thầy kêu lên bắt quỳ lấy thước kẻ vào đít. Đứa nào không thuộc bài hay chưa làm bài tập thì mặt mũi xanh rờn vì sợ thầy phạt đòn. Sau này kể cả quãng đời đi lính, tôi chưa bao giờ sợ một người có nhiều uy quyền đến thế! Hôm nhập trường mẹ tôi có mua cho tôi một quyễn tập viết mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Quyễn tập ấy có hàng chử in ngoài bìa xinh xinh đã khiến cho tôi suy nghĩ miên man...Đó là mấy chữ "Ngày Nay Học Tập, Ngày Mai Giúp Đời". Ôi chao quả là 1 ý tưởng ngoài sức tưởng tượng. Lủ trẻ nít ăn chưa no, lo chưa tới như chúng tôi, mà lại hình dung có một ngày nào đó mình sẽ làm một cái gì để "giúp đời". Tuy vậy, vì ngày nào cũng đọc, mấy chữ đơn sơ đó đã ghi khắc vào trong tâm khảm. Câu chữ in đó nổi bật trong ký ức về mái trường yêu dấu của thầy Giáo Nhiều. Tôi học trường thầy được khoảng 1 năm thì có 1 cậu bé kháu khỉnh con bác Năm Phùng mới vào học lớp vỡ lòng và ngồi kế bên tôi, tên là Đinh Quốc Cường em của chị Dung. Cậu em út của Cường là Tuấn lúc ấy chưa đi học. Chị Dung chơi với chị Nam của tôi và chị Tăng Thị Thiết con bác Vui Vui. Cậu bé ấy thật dễ thương, hay cho tôi mượn cục gôm hoặc đồ bào bút chì, tôi thường giúp Cường làm bài tập, và đến giờ chơi chúng tôi chơi chung. (Anh em Cường và Tuấn bắt đầu tập chơi tennis từ bé cùng với anh em Toàn và Thắng nhà ở bờ sông; sau này cả Cường và Tuấn đều trở thành những cây vợt nổi tiếng của VN). Giờ chơi trước sân trường thầy Giáo Nhiều bầy bán đủ thứ, từ me riêm, ốc khương, bánh tráng mắm ruốc, trái khế trái cốc thứ gì cũng có. Thậm chí lũ con nít chúng tôi còn có thể mua "chịu" nữa! Tôi nhớ những lần ăn kem "cà rem" chất lạnh thường buốt nhói lên tận đỉnh đầu. Ăn đu đủ bò kho, ăn xong còn húp hết cả chất nước cay và mặn ấy thì mới đúng điệu. Rồi lại có xe bán kẹo kéo với thớ kẹo lớn khi được kéo ra, ở giữa có các hạt đậu phộng vừa ngọt vừa thơm. Anh bán kẹo kéo còn kích thích chúng tôi bằng cách cho "đổ hột me", thỉnh thoảng con nít chúng tôi có ai đổ trúng thì được anh kéo thêm gấp 2, 3 lần dài hơn (mà thật ra thì cũng "mỏng" hơn). Lũ con trai thì chơi bắn bi, đáo lạc, bắn "bì", hoặc quăng cùi bắp. Các chị gái thì hay chơi các trò chơi mà con trai chúng tôi không tham dự như "đánh chắc" (tung trái banh lên, rồi chuyền xoay 1 nắm que đủa cho thật nhanh, để bắt lại quả banh kịp khi nó rơi xuống), nhảy giây (giây được nện lại bằng nhiều sợi thun thành một thớ thun dài), hoặc chơi búp bê, đá cầu ...Có lần hai chị em chúng tôi dạo bộ chung, đi lên mé cầu, trông thấy chị Dung hoặc chị Thiết, chị Nam tôi nhập bọn con gái chơi với họ, thế là tôi phải lủi thủi đi về nhà một mình, lòng ao ước phải gì mình có một người anh để chơi chung!

Trong các hình ảnh tuổi thơ ấy có bóng dáng của chính tôi ngày được ba may cho 1 bộ đồ veston mà mọi người dạo ấy gọi là áo "bành tô". Súng sính trong bộ đồ đặc biệt ấy, các chị và em nhìn tôi như thấy lạ mắt. Mẹ tôi vừa thắt nút áo cho tôi vừa kéo vạt áo cho thẳng thớm, vừa vổ đầu tôi và đùa mấy câu mà người dân thường hay trêu ghẹo những người mặc đồ veston có vẻ "bảnh bao" thời đó:

Bành tô la ghì
Ăn cắp bánh mì bỏ túi bành tô

Vì nhà gần quán bác Hai Mọi nên hai gia đình thân nhau. Ngoài các món ăn chiều hấp dẫn như bánh bèo, bánh quai vạt, mì quãng, nem nướng với các nước chấm mặn mà đặc biệt, hoặc các món chè đậu xanh, chè chí màu bửu (tức chè mè, màu đen), hoặc bánh bò được bán bởi các quầy gánh rong dọc theo phố chánh, chị em chúng tôi chiều chiều hay qua nhà bác Hai mua chỉ hai đồng "xí quách" mà đựng đầy cả một tô lớn về ăn chấm nước mắm, vừa ngon miệng vừa rẽ. Một buổi nọ, tôi sang mua 2 đồng xí quách như thường lệ, nhưng vì không tìm thấy 1 tô lớn nào trong nhà cả, tôi bèn mang đại 1 chiếc soong theo để đựng. Trông thấy chiếc soong khá lớn bác gái má anh Huệ (bác Hai Mọi) vừa cười hỏi tôi: "Thằng Tám con anh Sinh đó hả... Nhà con cái soong nào lớn hơn cái đó nữa không con?..." Vì bẽn lẽn từ đó về sau tôi không bao giờ dám mang soong chảo đi mua "2 đồng xí quách" nhà Bác Hai nữa cả. Rồi có một một tai nạn hi hữu mà tôi nhớ mãi. Dạo tôi lên chừng 6 tuổi, một hôm khi đang chơi bắn bi cùng lũ trẻ tại bãi đậu xe trước nhà, ngay lúc tôi đang lui cui chăm chú bắn bi vào lỗ bỗng nhiên tôi thấy mé trên đầu có chất gì nóng như nhớt nhỏ giọt xuống đầu tôi. Ngoảnh đầu lên nhìn thì lũ trẻ đã bỏ chạy đi đâu hết cả chỉ còn lại một mình tôi, mà lại có một chiếc xe vừa "de" vào đậu phủ ngay trên đầu tôi, lúc tôi còn đang cúi thấp xuống cặm cụi bắn bi cho vào được lỗ ! Tôi đang ngạc nhiên hoảng sợ thì nghe tiếng hốt hoảng của cha tôi. Chạy vội từ trong nhà ra đến bãi đậu xe, ông la lên: "Trời ơi xe cán con tôi rồi!..." Cha tôi vừa cầu cứu vừa cố gắng dở hỏng chiếc xe lên (nhưng không dở nỗi vì xe quá nặng). Khi tôi lòm còm bò ra khỏi gầm xe, cả ba tôi và người chủ chiếc xe đều mừng rỡ, ôm chầm lấy tôi . Dù tôi không bị hề hấn gì, ngày hôm sau ông chủ chiếc xe hơi ấy có ghé lại thăm gia đình tôi. Ông tặng 1 bó hoa và ngỏ lời xin lỗi về "tai nạn". Ông chủ chiếc xe ấy là 1 du khách ăn mặc sang trọng và dáng dấp thanh tao. Cha mẹ tôi cảm tạ về mỹ ý của ông với tai nạn thật là hi hữu đó. Hành động tặng hoa đó cũng thật là khác biệt đối với lối cư xử thường nhật khiến tôi không thể nào quên.

Các hình ảnh thời niên thiếu ấy có thể biểu tượng bằng 1 tấm hình thời bé mà tôi rất thương, dầu hình ấy đã thất lạc từ dạo tôi xa quê vào Sai Gòn học. Ngày tôi lên mười tuổi, học sinh lớp Nhất phải đi chụp hình để chuẩn bị đi thi Tiểu Học. Một hôm tình cờ đi qua tiệm chụp hình Liên Hoa chợt thấy tiệm treo 1 tấm hình khá lớn của 1 cậu bé. Nhìn kỹ té ra là hình của chính mình với áo sơ mi trắng, tóc chải dợn sóng, với nụ cười nhẹ nhàng xinh xắn. Tấm hình ấy sau khi thất lạc tôi vẫn ước mơ có dịp nào ngắm lại các bóng hình của thời bé bỏng xa xưa... Ngày tôi thi đậu bằng Tiểu Học, chị Nam mang về 1 món quà, bão rằng do chị Tăng Thị Thiết (tức chị Cà Sáu) con bác Vui Vui, bạn chơi thân của chi Nam tôi,gửi tặng tôi. Món quà đó là một con thỏ đồ chơi màu trắng, đằng sau lưng thỏ có gắn 1 chìa khoá lớn dùng để căng dây thiều. Khi quay dây thiều xong, thả xuống, con thỏ trắng "tự động" ấy nhảy lốp cốp khắp nơi thật vui mắt. Đấy là một món quà bất ngờ và đặc biệt. Bẳng về sau này, ngày nghe tin chị Thiết qua đời khi tuổi đời của chị còn rất trẻ, tôi liên tưởng món quà chị cho tôi, và cảm thấy một phần nào quãng ngày thơ ngây thân thương vừa mới mất...Cùng với chuyến dọn đi đến khu nhà mới xây trước ấp Đức Nghỉa, giữa các thay đổi với trường mới, bạn mới, lòng non dại của cậu bé trong tôi vẫn nghĩ và nhớ nhiều về Cường, cậu học trò nhỏ bé cạnh tôi một thuở mài đũng quần trường thầy Giáo Thẹo... Hình như ai đã cắt mất nơi tôi một phần gì thân thương âu yếm và hồn nhiên nhất...

Những ngày mới lớn xa quê vào học Sài Gòn, giữa những chiều nắng vàng bên phố Lê Lợi nhộn nhịp của chốn phồn hoa đô hội, hay những tối từ căn lầu nhà Dì Hai nhìn xuống con đường Phan Đình Phùng với ngựa xe trẩy hội náo nhiệt mé dưới... Tôi chợt nhớ về quê hương Phan Thiết với những cột đèn đường bình dị có quầy bánh căn và thấp thoáng đâu đó hình ảnh tiếng cười vui của các chị em tôi quây quần bên lò bánh gắp từng miếng bánh căn dòn vừa được cậy khỏi khuôn trộn vào với nước mắm, các tốp mỡ, và các thứa cá Nục kho... nhớ quê ngoại, mé xa bên kia đường đối diện khu trường Phan Bội Châu nằm sâu trong vùng ngoại ô, với bóng mát chiều tỉnh lặng khoan thai êm ả lúc khói nhà ai đang nấu cơm và tiếng gọi lanh lảnh xa xăm "Cu ơi ...về ăn cơm" ...nhớ tiếng ru con của ai đó xen lẫn giữa tiếng võng đưa kẽo kẹt giữa trưa hè "Ầu ơ... bầu ơi thương lấy bí cùng"... nhớ cảnh đồng ruộng, xanh thật là xanh, màu mạ mới cắt... và nhớ hương đồng gió nội yêu dấu của quê hương... nước mắt kẽ tha hương chợt rưng tròng.

Bây giờ, sau những cuộc đổi dời, sau những chuyến vượt đại dương, qua bao nhiêu bến bờ, qua bao nhiêu không gian, qua bao nhiêu mảnh đời, các hình ảnh thơ dại xưa vẫn còn lưu lại tiềm tàng trong ký ức. MTGPMN đã được cho ra đời để khởi đầu chinh chiến, rồi lại bị khai tử vào bóng tối, sau khi Miền Nam VN đã mất vào tay CS Bắc Việt. Nhiều trẻ tí hon cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều ngày xưa giờ đã ra người thiên cổ. Có kẽ tha hương đang tìm kiếm trong sương mù ký ức một quãng đời hơn 40 năm xưa, như đang kiếm tìm lại những viên lưu ly trân quý. Mỗi khi chị em chúng tôi gặp lại nhau, nghe lại giọng ca của chị Nam "Mưa rơi hoa lá tơi bời, đàn ai vọng đến một chiều gió mưa ..." của một bài ca mà chúng tôi đều ưa thích; hoặc lời ca "Ta đến đây để xin lệnh phụ vương..." do chị Anh ca; hoặc giọng em Hà ngâm lời thơ "Từ buồn chị chọn em làm tri kỹ, Để đêm về gục mặt kể em nghe..." của chị Nam làm tặng em Hà, các ấn tượng và cảm giác xa xưa vẫn còn sẵn sàng để cuồn cuộn trôi về trong tôi như thác lũ - từ những nguồn sông của quê hương xa thẳm...

Lủ trẻ con xưa đã từng Học Tập, nay vẫn còn ngóng tìm qua hàng rào ngăn cách của lý tưởng ý thức hệ, mảnh quê hương bình dị thân yêu xưa, với ước mong sẽ làm được một điều nhỏ nhoi nào đó có thể gọi là Giúp Đời...

Cát Biển

Sunday, August 30, 2009

Hằng

0 comments
Mùa Trung Thu năm nay có ngọn gió duyên thổi qua hồn nên CB viết mấy hàng về Hằng Nga...
Rất nhớ những năm nào còn bé theo các anh các chị họp nhau cắt bánh Trung Tru uống trà đón Trăng Rằm Tháng Bảy...và tiếng cắc tùng dinh dinh của mấy con Lân khắp nơi náo nức múa lộng đêm Trung Thu...

Hằng

Hằng kia huyền diệu cung trăng
Nàng ơi có biết ta hằng nhớ thương
Những đêm rực sáng sau vườn
Ta say ngắm nguyệt mù sương cõi hồn
Mơ về một chốn tinh nguyên
Thuở tim thao thức thuở duyên rất nồng
Hằng ơi miên viễn xuân đông
Nàng là tha thướt dáng hồng mộng mơ
Khuôn vàng nàng cứ dệt tơ
Cho ta ước nguyện giữa bờ đắng cay
Thương người đừng nói chia tay
Đừng tan biến mộng sao mây cảnh trời
Cho thi nhân tán dương đời
Cho ta hạnh phúc giữa trời bão giông


Cát Biển
8/28/2009


Đón Nguyệt

Lời như mật ngọt tấm lòng
Khách thơ sẽ đợi đóa hồng cầm tay
Sẽ nhìn Hằng rất mê say
Hâm men rượu vén làn mây của Hằng
Đêm thanh cùng gió thưởng trăng
Bên hồ liễu rủ cùng giăng cung đàn
Hồ trường tình đã miên man
Bẫy tình quyến rũ cho nàng xuyến xao

Cát Biển
8/28/2009

Say Đắm

Hằng ơi về quá nhẹ nhàng
Tình vương biển rộng hoang mang cõi trần
Thềm trăng kỷ niệm tơ ngân
Mùa thu ai ướp hồn dâng ngát tình

Cát Biển
8/28/2009


Vũ Khúc Nghê Thường

Wednesday, August 19, 2009

Có Một Nhà Thơ Tên Là Trịnh Công Sơn

0 comments

Có Một Nhà Thơ Tên Là Trịnh Công Sơn

Người ta vẫn gọi Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ chứ chưa mấy ai gọi anh là nhà thơ, dù anh cũng đã in dăm ba bài thơ lẻ. Cũng có người gọi anh là "người thơ ca" hay "người hát thơ", nghĩa là, anh là người tác hợp giữa thơ và nhạc. Nhưng với tư cách là một nhà thơ, tôi đã khảo sát ca từ của Trịnh Công Sơn, và tôi dám khẳng định rằng, anh chính là một nhà thơ đích thực.
Cho dù khi sáng tác ca khúc, Trịnh Công Sơn có thể viết lời và nhạc cùng một lúc, hoặc có đoạn lời viết sau khi đã có nhạc, hay trước khi "phổ nhạc" thì mỗi lời ca của anh đều là những bài thơ hoàn chỉnh kể cả về ý, tứ, cấu trúc, ngôn từ và cảm xúc. Mà Trịnh Công Sơn không phải là một nhà thơ bình thường, anh là nhà thơ rất độc đáo ôm chứa tư tưởng nhân sinh và thời cuộc với một thi pháp khá riêng biệt trong thơ Việt.
Trịnh Công Sơn rất nhuần nhuyễn trong các thể thơ truyền thống như lục bát, đồng dao. Ngay từ lần nghe đầu tiên ca khúc Ở trọ, tôi đã phát hiện ra đấy là một bài thơ lục bát rất tài hoa. Từ cái chuyện ở trọ bình thường trong đời, anh đã đẩy liên tưởng tới cái "cõi tạm" chốn trần gian trong triết lý của Đạo Phật với một cách nói thoải mái, thông minh và hóm. Anh nhìn thấy con chim ở trọ trên cành cây, con cá ở trọ dưới nước, cơn gió ở trọ giữa đất trời, rồi đẩy tới một khái quát bất ngờ:

Trăm năm ở đậu ngàn năm
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn

Có những liên tưởng còn bất ngờ hơn khi nói tới vẻ đẹp ở trọ trong thân thể, hay tâm hồn của người nữ:

Môi xinh ở đậu người xinh
Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều


Vì thế mà có câu:

Xin cho về trọ gần nhau
Mai kia dù có ra sao cũng đành

Và khi con người đã ở trọ vào nhau bằng tình yêu thì dù có phải xa rời cõi tạm, vẫn mãi mãi khăng khít cùng nhau:

Tim em người trọ là tôi
Mai kia về chốn xa xôi cũng gần


Nhiều bài thơ phỏng theo nhịp đồng dao (bốn chữ) khá thành công nhờ cách lập tứ và chọn từ như Em đi qua chiều/ Cũng sẽ chìm trôi / Nhật Nguyệt trên cao - Ta ngồi dưới thấp, nhưng có lẽ Ngụ ngôn mùa đông mới là một bài thơ bốn chữ gây ấn tượng khó phai mờ trong lòng người đọc. Bài thơ nói về "Một người Việt Nam - Đi ra dòng sông - Nhớ về cội nguồn... Đi lên đồi non - Nhớ về cội nguồn" thật tươi đẹp, thật máu thịt, rồi bỗng:

Một ngày mùa đông
Trên con đường mòn
Một chiếc xe tang
Trái mìn nổ chậm
Người chết hai lần
Thịt da nát tan...

Người Việt ấy chết rồi lại còn phải chết thêm một lần nữa vì "trái mìn nổ chậm" của chiến tranh. Cái tứ thơ này không chỉ chia xẻ với cái chết đau thương tang tóc của con người mà còn có sức mạnh tố cáo chiến tranh thật sâu sắc:

Súng từ thị thành
Súng từ ruộng làng
Nổ xé da non
Phố chợ thật buồn
Cuộn giây gai chắn
Chắc mẹ hiền lành
Rồi cũng tủi thân


Nhịp thơ năm chữ trong thơ Trịnh Công Sơn cũng xuất hiện không ít, và lặng lẽ tuôn chảy trong veo buồn thương, ngơ ngác. Khi thì khao khát hồn nhiên: "Môi nào hãy còn thơm - Cho ta phơi cuộc tình - Tóc nào hãy còn xanh - Cho ta chút hồn nhiên", khi thì hoang vắng, lạnh câm: "Như đồng lúa gặt xong - Như rừng núi bỏ hoang - Người về soi bóng mình - Giữa tường trắng lặng câm", khi thì tuyệt vọng ngậm ngùi: "Không còn, không còn ai - Ta trôi trong cuộc đời - Không chờ, không chờ ai" (Ru ta ngậm ngùi), và có lúc đầy mộng mơ khao khát giữa ưu phiền: "Tôi con chim thanh bình - Mơ được sống hồn nhiên - Như hoa trên đồng xanh - Một sớm kia rất hồng" (Như chim ưu phiền). Nhịp thơ năm chữ vốn rất phổ biến trong đối đáp dân gian, nhưng với Trịnh Công Sơn, nó trở nên lồng lộng, thênh thang và quý phái:

Người ngỡ đã xa xăm
Bỗng về quá thênh thang
Ôi áo xưa lồng lộng
Đã xô dạt trời chiều

(Tình nhớ)

Cùng với những ý thơ bất ngờ đến từ trong vô thức:

Trăng muôn đời thiếu nợ
Mà sông không nhớ ra


Hoặc:

Cây trưa thu bóng dài
Và tôi thu bóng tôi
Tôi thu tôi bé lại
Làm mưa tan giữa trời...

(Biết đâu nguồn cội)

Ít thấy nhịp thơ sáu chữ ở Trịnh Công Sơn, nhưng không phải là không có. Câu thơ sáu chữ xuất hiện đan xen trong nhiều bài thơ của anh thường tạo được hiệu quả lạ, như một dấu nhấn của cảm xúc và ý tưởng. Ví dụ như trong bài Nhìn những mùa thu đi, sau mỗi câu năm chữ là câu sáu chữ khá hay: "... Em nghe sầu lên trong nắng... Nghe tên mình vào quên lãng... Tay trơn buồn ôm nuối tiếc".
Bài Ru em là một bài thơ lục ngôn từ đầu đến cuối:

Ru em ngủ những đêm khuya
Ru em ngủ những âm u
Ru em cùng những u mê
Ru em dù đã chia xa...

Nhân nói đến thơ lục ngôn; bỗng nhớ đến một bài thơ nhịp 3 hết sức đặc biệt của Trịnh Công Sơn. Đó là bài Mưa hồng:

Trời ươm nắng
Cho mây hồng
Mây qua mau
Em nghiêng sầu
Còn mưa xuống
Như hôm nào
Em đến thăm
Mây âm thầm
Mang gió lên...


Điều đó nói lên sự đa dạng và tài hoa của Trịnh Công Sơn khi sử dụng thi điệu, bởi thơ nhịp 3 thường tươi vui nhí nhảnh, mà ở đây lại tả cái tâm trạng thương nhớ xa xăm: "Người ngồi xuống/Xin mưa đầy/Trên hai tay/Cơn đau dài"...).
Nhịp thơ thất ngôn là một sở trường của Trịnh Công Sơn. Dường như anh thẩm thấu Đường thi, nhưng hơi thở thì đã khác. Những câu thơ bảy chữ vào bài hát của anh rất tự nhiên. Nhiều bài thơ (bài hát) đã mở đầu bằng câu thơ bảy chữ thật nhẹ nhàng như chẳng có một cố ý nào. Có thể dẫn ra nhiều những trường hợp như vậy: "Một đêm bước chân về gác nhỏ", "Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi", "Trên đời người trổ nhánh hoang vu", "Người đi quanh thân thế của người", "Vẫn thấy bên đời còn có em"...
Cũng là thơ thất ngôn, nhưng cách gieo nhiều vần bằng liên tiếp theo cảm hứng âm nhạc, đã khiến cho thơ anh không bị gò ép vào khuôn thước cổ thi, mà thoát ra, phong quang và mềm mại hẳn lên. Có những đoạn thơ chỉ gieo toàn vần bằng:

Màu nắng hay là màu mắt em
Mùa thu mưa bay cho tay mềm
Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm
Rồi có hôm nào mây bay lên
Lùa nắng cho buồn vào tóc em
Bàn tay xôn xao đón ưu phiền
Ngày xưa sao lá thu không vàng
Và nắng chưa vào trong mắt em

Cũng có khi, thơ thất ngôn của anh được gieo vần trắc:

Em đi biền biệt muôn trùng quá
Từng cơn gió và từng cơn gió
Em đi gió lạnh bến xa bờ
Từng nỗi nhớ trùng trùng nỗi nhớ


Lại có khi thơ thất ngôn được tổ chức theo từng khổ ba câu với những hình ảnh thật đẹp, thật lạ như: "lòng như khăn mới thêu", "lòng như nắng qua đèo", chỉ đọc một lần là bâng khuâng xao xuyến mãi:

Mười năm xưa đứng bên bờ dậu
Đường xanh hoa muối bay rì rào
Có người lòng như khăn mới thêu
Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
Có người lòng như nắng qua đèo

Các thi ảnh vừa tươi mới vừa lạ lùng cứ nối tiếp nhau hiện lên trong thơ Trịnh Công Sơn để đẩy tứ thơ đến tận cùng bất ngờ: "Có một dòng sông đã qua đời". Tại sao dòng sông lại qua đời? Phải chăng, đấy chính là dòng sông biểu tượng cho tình yêu đã cạn!
Trịnh Công Sơn thuộc thế hệ những người mê đắm Thơ Mới, và thể thơ tám chữ mà các thi sĩ của phong trào Thơ Mới đã có công cải hóa và Việt hóa từ thơ Pháp có một nhịp điệu dễ mê hoặc lòng người. Trịnh Công Sơn tiếp thu nhịp điệu này, và chính âm nhạc đã thêm một lần nữa làm thơ tám chữ:

Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa
Giọng người gọi tôi nghe (tiếng) rất nhu mì
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế
Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ

(Bên đời hiu quạnh)

Hoặc dùng lại đúng cái nhịp Thơ Mới vẫn thường dùng, nhưng tinh thần thì đã khác:

Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng
Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông
Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng
Em là tôi và tôi cũng là em

(Tôi ơi đừng tuyệt vọng)

Một thi sĩ với rất nhiều cung bậc trong điệu nhạc tâm hồn, Trịnh Công Sơn thả sức bay lượn trong các nhịp thơ tự do đầy phóng túng. Những câu thơ dài ngắn khác nhau cứ tung tẩy trong các bài thơ tự do của anh. Khi thì triết lý: "Tình yêu như trái phá con tim mù lòa", khi thì lộng lẫy: "Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay", khi thì trùng điệp: "Bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta", "Rừng núi dang tay nối liền biển xa - Ta đi, vòng tay lớn mãi để nối sơn hà", khi thì gập ghềnh mệt mỏi: "Ngựa buông vó/ Người đi chùng chân đã bao lần/ Nửa đêm đó/ Lời ca dạ lan như ngại ngùng/ Vùng u tối/ Loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng", và có khi nhịp điệu trôi xa như sông bỗng quay về gần gũi như mưa:

Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ
Lời hẹn thề là những cơn mưa


Dù là phóng túng trong thơ tự do, nhưng vần điệu và ý tưởng lạ và đẹp ở thơ anh giống như chiếc neo thuyền, neo vào lòng người để nó chẳng bao giờ trôi đi vô vọng.
Có lẽ Trịnh Công Sơn là nhà thơ được người ta thuộc nhiều nhất. Điều đó không lạ, bởi thơ anh luôn có sự truyền tải diệu vợi bằng âm nhạc của chính anh. Nhưng cũng có thể nói ngược lại, âm nhạc của Trịnh Công Sơn luôn được thơ nâng cánh. Trong ca từ của anh có rất nhiều những câu thơ thật hay như:

- Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em, biết không?
Để gió cuốn đi!

- Làm sao em biết bia đá không đau
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau

- Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi

- Mùa xanh lá
Loài sâu ngủ quên trong tóc chiều

- Mây che trên đầu và nắng trên vai
Đôi chân ta đi sông còn ở lại
Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người

- Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những quán không
Bàn im hơi bên ghế ngồi
Ngày đi đêm tới đã vắng bóng người

- Bàn chân ai rất nhẹ
Tựa hồn những năm xưa

- Áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau

- Mẹ là nước chứa chan
Trôi giùm con phiền muộn
Cho đời mãi trong lành
Mẹ chìm dưới gian nan

- Hà Nội mùa thu
Cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau
Phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu
...Nhớ đến một người để nhớ mọi người...

Có một tập ca khúc thời trẻ của Trịnh Công Sơn mang tên là Kinh Việt Nam. Phải chăng, trong sâu thẳm lòng mình, anh khao khát sáng tạo ra những bài kinh cầu cho dân tộc, cho tình yêu và cho thân phận? Đây chính là bài kinh cầu bên bờ vực linh hồn cần được cứu rỗi. Những bài kinh ấy chính là những bài thơ còn lại của Trịnh Công Sơn với một niềm yêu tin "gần như là tuyệt vọng" đã vượt lên số phận chia sẻ với đương thời và hậu thế, đấy là lòng tin vào con người khởi nguồn từ dòng cảm xúc tự nhiên, vượt qua cả tôn giáo và định kiến, bởi vì hương thơm đã sẵn đốt trong hồn (chữ của Chế Lan Viên). Cũng với một lòng tin như vậy, tôi xin mạn phép đổi một chữ trong câu thơ của anh để tạm kết thúc bài viết này:

Ngày sau sỏi đá cũng cần có THƠ!

Nguyễn Trọng Tạo
23-08-2002

Thursday, August 6, 2009

Những Điều Học Hỏi Qua Năm Tháng

0 comments

Những Điều Học Hỏi Qua Năm Tháng

Người nào có thể làm mỗi giây phút
tràn ngập một nội dung sâu sắc,
thì người đó sẽ kéo dài vô tận
cuộc đời mình.

Đừng giấu diếm tình yêu
và sự dịu dàng của mình
cho đến ngày bạn lìa đời.

Hãy làm cuộc đời bạn
tràn đầy sự ngọt ngào.
Hãy nói những lời thân thương
khi bạn còn nghe được
và tim bạn còn rung động.

Bao lâu bạn vẫn còn tự tin ở bạn,
thì người khác vẫn còn tin bạn.

Đứng vững
và không bao giờ
nghĩ rằng mình sẽ ngã -
thì sẽ chẳng bao giờ ngã.

Đừng đi qua thời gian
mà không để lại dấu vết gì cả.

Trí Tuệ của con người
trưởng thành trong tĩnh lặng,
còn Nhân Tính
trưởng thành từ bão táp.

Mong rằng bạn luôn
có đủ hạnh phúc để vui vẻ;
đủ thử thách để mạnh mẽ hơn,
đủ nỗi buồn để trưởng thành hơn,
và đủ tiền,
để mua quà cho bạn bè.

Hãy chạy theo người nào
mà có thể làm cho bạn luôn mỉm cười,
bởi vì chỉ có nụ cười là tồn tại mãi.
Hy vọng rằng bạn sẽ tìm ra người đó.

Một lời nói đúng lúc
có thể làm giảm căng thẳng,
còn lời nói yêu thương
có thể chữa lành vết thương
và mang đến sự bình yên.

Trao cho ai đó cả con tim mình
không bao giờ là một sự bảo đảm rằng
họ cũng yêu bạn,
đừng chờ đợi điều ngược lại.

Hãy để tình yêu
lớn dần trong tim họ,

nhưng dẫu điều đó không xảy ra,
thì vẫn cứ hài lòng
vì ít ra nó cũng đã
lớn lên trong bạn...

Con người sinh ra
không phải để tan biến đi
như một hạt cát vô danh

Họ sinh ra
để lưu dấu chân trên mặt đất,
và lưu dấu ấn
trong trái tim người khác.

Khi bạn sinh ra đời, bạn khóc,
còn mọi người xung quanh thì cười.
Hãy sống sao cho khi bạn qua đời,
mọi người khóc, còn bạn, bạn cười.

Wednesday, July 22, 2009

Người Đã Cho Tôi

0 comments
Người Đã Cho Tôi

Người đánh thức linh hồn tôi
Dâng hoa sau giấc ngủ dài
Người mang một vòng tay ấm
Cho tôi lạc dấu thiên thai

Người chuyển tim tôi mềm yếu
Ngây ngô dệt giải lụa mềm
Người ghé cho rừng xanh lá
Ấm nồng thương giọt mưa đêm

Người hé cho tôi triền núi
Tôi đầy khao khát vượt qua
Người tỏa đêm đen màu sắc
Sao băng vờn ánh trăng tà

Người vẫn trong tim ngự trị
Vì tôi còn đó bóng hình
Người đến như loài đom đóm
Rừng xưa chợt sáng lung linh

Ngàn năm thu gió gọi mưa
Vầng trăng sáng trời huyễn mộng
Ngàn năm lưu đời tiếng vọng
Một thời nhật nguyệt tương tư

Cát Biển
20 July 2009

Saturday, July 11, 2009

Niềm Đau Ngày Mai (Nhạc)

0 comments

Niềm Đau Ngày Mai

thơ Cát Biển
nhạc Nguyễn Thiện Doãn
ca sĩ Bông Mai

Buổi chiều hoang
Viếng chôn đoá ngây thơ
Vừa hé nụ nơi ngọn đồi hoa
Thầm đếm những kỷ niệm
Mãi trong vô thức anh

Khổ niềm đau
Dáng em quá thơ ngây cười say mộng
Tôi miệt mài trông
Còn chút khói hương trầm
Toả trên ngọn tình sầu
Đêm thao thức bủa vây
Tìm nhau cả một đời
Chia tay một lời
Dòng máu vỡ kéo dư âm

Ai ray rứt niềm đau
Người đi tình còn chờ
Miên man giọt nhớ
Ngát từng lời đắng trên môi

Ngày mai còn đâu
Còn em hồn tôi
Còn tôi tình em
Còn đây lời trao
Đau tình chăn gối

Ngày mai còn đâu
Ngày xanh trần gian
Hành trang đời tôi
Mảnh chăn tả tơi
Kéo che cuộc đời

Billy Jean (Michael Jackson)

0 comments

Billy Jean

(Written & composed by Michael Jackson)
1st verse
She was more like a beauty queen from a movie scene
I said dont mind, but what do you mean
I am the one
Who will dance on the floor in the round
She said I am the one who will dance on the floor in the round

2nd verse
She told me her name was billie jean, as she caused a scene
Then every head turned with eyes that dreamed of being the one
Who will dance on the floor in the round

Bridge
People always told me be careful of what you do
And dont go around breaking young girls hearts
And mother always told me be careful of who you love
And be careful of what you do cause the lie becomes the truth

Chorus
Billie jean is not my lover
Shes just a girl who claims that I am the one
But the kid is not my son
She says I am the one, but the kid is not my son

3rd verse
For forty days and forty nights
The law was on her side
But who can stand when shes in demand
Her schemes and plans cause we danced on the floor in the round
So take my strong advice, just remember to always think twice(do think twice)

4th verse
She told my baby,we where dancing still 3:00
Then she looked at me, she show me a photo
My babycried, cause his eyes where like mine

Bridge
People always told me be careful of what you do
And dont go around breaking young girls hearts
She came and stood right by me
Then the smell of sweet perfume
This happened much too soon
She called me to her room

Chorus
Billie jean is not my lover
Shes just a girl who claims that I am the one
But the kid is not my son
Billie jean is not my lover



Sunday, July 5, 2009

Thương Lắm Những Dại Khờ

1 comments
Thương Lắm Những Dại Khờ

Thơ Cát Biển
Nhạc Cao Minh Hưng
Ca sĩ Hương Giang

Thương những ngày mộng mơ
Bắn bi và trốn học
Hồ sen đùa tuổi ngọc
Bên sóng biển đọc thơ

Đố vui rồi đánh cờ
cùng bạn thân đàn hát
nằm dài trên bải cát
Dệt ước mộng vu vơ

Vai ba lô cùng bạn
Học đánh morse phất cờ
Gút giây và lữa trại
Trò chơi lớn dọc ngang

Gần xa như tiền kiếp
Như gió thoảng cơn mơ
Cung đàn còn ngân nhịp
Yêu quá tuổi mộng mơ

Cát Biển
8/27/2008

Add Image

Saturday, June 27, 2009

Nhánh Sông Phiền Muộn (Nhạc)

4 comments
Nhánh Sông Phiền Muộn

Thơ : Cát Biển
Nhạc: Nguyễn Thiện Doãn
Ca sĩ: Ý Lan

Mặt trời hồng ngủ ngang đồi núi
Bầy chim non ngưng hót trên cây
Người ghé ta rừng không đợi tuổi
Người đi xa gió kéo giăng mây

Đời muộn phiền giòng sông rẽ nhánh
Và sương mai thấm ướt tim khô
Vàng ngất ngây rừng im nhịp thở
Vùng dư âm khép tiếng cung đàn

Hãy cứ buông tay chiếc lá vàng
Hãy tiễn đưa đời khúc ly tan
Hãy cố quên giây phút ngỡ ngàng
Chớ luyến lưu tình đã phai tàn

Hãy ngắt đóa sầu đau năm tháng
(Ai) nghe vụn vỡ ánh trăng vàng

Người bên kia bờ sông xa thẳm
Mãi nhớ người ta chờ tay ấm
Mơ tiếng cười ru hồn bừng say
Mãi nhớ người nhánh sầu chia sông

Cát Biển

Wednesday, June 17, 2009

Qua Những Mù Sương

1 comments
Qua Những Mù Sương

Trên bức tường thành phố
Cơn mê dài ảo ảnh
Mưa thấm màu khung gỗ
Gió trời Đông thoáng lạnh

Người xưa không về đây
Cho hồn giăng tay gầy
Gọi nhớ vào không gian
Âm vang tình một thuở

Người qua buốt bờ vai
Còn công viên lá đổ
Nắng hoang triền hoa dại
Nghe từng bước nhạt phai

Bàn tay tình mặn nồng
Mắt người vương ngấn lệ
Lời yêu bao chuyện kể
Vầng thái dương khuất bóng

Pha lê hay đam mê
Thoáng vọng tiếng cười xưa
Xoay một vòng dương thế
Sao rơi ngàn thiên thể


Cát Biển

Saturday, June 13, 2009

Tiếng Hát Ngọc Lan

0 comments
Chiều Một Mình Qua Phố (TCS)


Bản Tình Ca Cho Em (Ngô Thụy Miên)


Mưa Trên Biển Vắng (Nhạc Pháp: Je N'oublierais Jamais)


Kaoma - Lambada

Friday, May 29, 2009

Ðêm Nghe Ðoàn Xe Lửa

1 comments

Ðêm Nghe Ðoàn Xe Lửa

Thương chuyến cùng Ba xe lửa khuya
Mường Mán ga đêm chén cháo gà
Ánh mắt dương to nhìn phố lạ
Chợ Bến Thành huyên náo lụa là

Con vẫn cùng Ba những quãng đường
Tay bàn tay nắm ngỏ yêu thương
Những năm bé tí Ba bồng bế
Những chuyến vào thăm trọ học đường

Con nhớ Ba thường dẫn xem phim
Bá Ða đèn quý kẻ đi tìm
Mê mẩn quây quần Ba kể chuyện
Ðường rừng sợ hãi, tếu thêm duyên

Chuyện xử thế nhân, Tam Quốc Chí
Chuyện ngày đi hát, chuyến sang Miên
Cười mãi chuyện dài Thi Nói Láo
Huyền thiên kỳ sử Lẽ Một Ðêm

Giọng ấm lời ca thấm hồn ai
Giải lụa ngân bay điệu ngắn dài
Những ngón tay đàn chiu chắt đuổi
Kìm Tranh Sến Lục tiếng nhặt thai

Ngày đổ Tú Tài con nhớ sâu
Ba ghì vai trẻ bước song đôi
Tâm sự phong trần Ba kể lại
Quảng đời cay đắng kẽ mồ côi

Chuyện của Ba mà như của ai
Bởi đời êm ấm có ngờ đâu
Cha mẹ đắm chìm cơn sử Việt
Hai đàn em dại chớm xanh đầu

Con cả chết đi ngày nhỏ dại
Tây lùng trai tráng bắt vào khu
Mẹ dắt tay bồng con bệnh yếu
Bánh làm mong bán khóc đêm dài

Êm ấm hoà bình tạm ghé chân
Nước nhà thay phế đổi ngôi Quân
Một mái gia đình vang tiếng hát
Những bàn chân đạp máy áo quần

Bơi lội trong tình thương thiết tha
Những lời tâm sự của người cha
Trùm lên sung sướng ngày thi đỗ
Nước mắt hoà chan tận đến nhà

Rồi cảnh quê mình thêm khổ đau
Bom dầy đạn xéo đẩy chia ly
Những cánh tay ôm ngày giã biệt
Người đi tan tác tuổi xuân thì

Khuya nay thức giấc tiếng đoàn xe
Chợt nhớ tàu xưa ấm cháo gà
Lẽ bóng bên trời nơi phố lạ
Có người con vọng nhớ về Cha

Cát Biển


Saturday, May 23, 2009

Mường Giang Lời Tự Tình Của Giòng Sông

1 comments

Giới thiệu tác phẩm “Bình Thuận Quê Hương Một Đời Yêu Dấu”
(Ký Sự Lịch Sử) của Mường Giang

Mường Giang Lời Tự Tình Của Giòng Sông

Cát Biển

Nếu nói kỷ niệm một thời, kỷ niệm một đời, thì trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết phải là quãng đời đã hun đúc nuôi dưỡng cho dòng suối lệ của nhà văn nhà thơ nhà biên khảo Mường Giang với dấu ấn không thể nào lẫn lộn.

Nhắc đến địa danh Phan Thiết Bình Thuận người ta không thể quên các nghệ sĩ được nhiều người mến mộ như Trần Thiện Thanh, Thanh Thuý, Anh Khoa, Mỹ Thể, Phương Đại, Tuấn Vũ, Việt Hùng, Thanh Thuỷ, Trang Mỹ Dung, Nguyễn Hữu Thiết (song ca với Ngọc Cẩm), Hồng Phúc (Đài Pháp Á), Huyền Vũ (thể thao bóng tròn), Ngọc Cảnh, Trường Thanh, Thái Tài, Đức Phương, Bảo Phương v.v...

Đất Phan Thành đã đào tạo rất nhiều nhân sĩ, nhưng một trong những người xứng đáng nhất với danh nghĩa người con yêu của Bình Thuận phải nói là Mường Giang. Con yêu, không phải vì người đó lắm tài nhiều đình đám, một ngôi sao hào nhoáng khiến mọi người ngưỡng mộ. Mà con yêu, vì người ấy đã làm vinh danh xứ sở mình. Con yêu, vì người con ấy biết kính thầy thương bạn, quý trọng công lao tiền nhân, và đốt ngọn đuốc nêu sáng gương cứu nước và giữ nước của cha ông nòi giống. Những người tài hoa đến rồi đi biền biệt, nhưng con yêu sẽ ở lại mãi trong lòng của quê hương, và trong lòng những người yêu quý tha thiết về quê hương.

Bút hiệu Mường Giang đã nói lên tất cả. Nhà văn Hồ Đinh chọn tên con sông Mường Giang ở Phan Thiết để gửi gấm những lời viết đẩm lệ yêu dấu của anh về một quê hương đã mất. Giữa những nghệ danh quen thuộc với chúng ta như Cung Trầm Tưởng, Trầm Tử Thiêng, Hàn Mặc Tử khiến người nghe cố suy tư tìm hiểu, cái tên Mường Giang có một âm vang hiền hoà thân mến êm đềm như số phận dòng sông dịu hiền chảy ngang qua tỉnh lỵ.

Như vậy những bài viết của Mường Giang về những món ăn quê hương, về những kỷ niệm vui buồn tình bạn, về tinh hoa phong tục tập quán, về nổi đau của người lính QLVNCH, về trường Phan Bội Châu đầy ân nghĩa ân tình cùng tình cảm man mác thời áo trắng, và lời thơ đầy huyết lệ của Mường Giang, có phải chăng chính là lời tự tình của một giòng sông. Giòng sông ấy là hình ảnh thân quý nhất cho con người Bình Thuận. Giòng sông chảy qua cây cầu mang bao tâm tình thương mến của con người Bình Thuận về con phố từng cưu mang un đúc mình. Giòng sông ru lời của những lá vông bên công viên Tháp Nước. Giòng sông mang đầy những kỷ niệm yêu dấu một thời, một kiếp người. Mường Giang, từ những ngày mới lớn cắp sách đến trường cho tới cả quãng đời lang bạt làm lính và xa quê, bút hiệu ấy đủ nói lên bao nhiêu lời trìu mến dành cho quê hương.

Phan Thiết Bình Thuận với bao thay đổi từ một tỉnh cuối của miền Trung, thành tỉnh đầu của miền Nam, rồi trở lại là miền Trung, với cát gió với Tháp Chàm với Lầu Ông Hoàng với cánh đồng muối trắng thênh thang với mùa Chà rộ cá và biển xanh sóng vỗ dạt dào lại giàu những chân tình. Bình Thuận có vị Tuần Vũ trẻ tuổi tên Ngô Đình Diệm ra nhậm chức lúc mới 24 tuổi. Bình Thuận là thềm vựa cá kèm với tài nguyên muối trắng vô tận khai thác từ nước biển khiến cho kỹ thuật nước mắm ngày một tinh vi, cung cấp toàn quốc. Bình Thuận có Núi Tà Cú từng được vua ngự và phong là kỳ tích. Ngày nay Bình Thuận sản xuất trái Thanh Long nhiều nhất nước.

Người ta đến với những bài biên khảo phong phú và sâu sắc của Mường Giang (tức Hồ Đinh) với nhiều chi tiết hay ho thi vị, và cuối cùng khép trang sách ngậm ngùi với tấm lòng chung thuỷ của người con Bình Thuận tiếc thương cho một quê hương bị cưỡng chiếm. Tình cảm sâu đậm trong văn phong của anh như chiều cao của ngọn tre đứng thẳng, thiết tha như khói mây chiều, và dạt dào như lá thu rơi theo từng ngọn gió.

Sau buổi tổ chức “Đêm Nhạc Hội 20 Năm Viễn Xứ” thành công ngoài sức mong đợi của Hội Thân Hữu Bình Thuận năm 1995, với sự dìu dắt của anh trưởng ban Tổ Chức Trương Tiến Huân và cô Hội Trưởng Thu Nhi, quỷ của hội THBT từ con số không đã tăng lên thành 8 ngàn đô, hứa hẹn cho những công tác ý nghĩa kế tiếp. Tất cả mọi người trong Ban Chấp Hành và Ban Cố Vấn đều sung sướng và mãn nguyện với những thành quả và hi sinh chung. Những buổi họp của BCH luôn có mặt đông đủ hơn 30 người con tâm huyết của Hội TH BT cùng vui vẻ nhận trách nhiệm thừa hành các công tác. Người ta có thể cảm nhận tình thương và niềm vui chung của Hội với các tiếng cười vang to và lời chào hỏi nhộn nhịp trong các buổi ăn bánh căn nhà Phạm Mừng hoặc mỳ quảng nhà chị Minh Khanh và tiệc thân hữu nhà anh Nguyễn Văn Sâm. Các Đặc San Bình Thuận được thực hiện với nhiều bài vở rất giá trị. Sau những tán thưởng về nhạc cảnh Tiếng Dân Chài, với nhiệt tình đóng góp của Thượng Toạ Thích Quảng Thanh tại chùa Bảo Quang, mọi người náo nức xem một nhạc cảnh nào khác sẽ được Hội thực hiện kế tiếp. Đây cũng là một đòi hỏi càng lúc càng cao cho Hội, nhất là cho người sẽ đạo diễn thực hiện nhạc cảnh đó.

Một trong những bài thơ thi vị nhất của Mường Giang phải nói là bài Phan Thiết Ơi, Phan Thiết đã được nhạc sĩ Nguyên Chi phổ nhạc. Lời ca khúc ray rứt ấy đã vang vọng trong hồn người nghe và thúc đẩy nên sự hình thành của đêm nhạc hội tại vũ trường Majestic năm 1998. Nhạc cảnh Phan Thiết Ơi Phan Thiết với khoảng 20 diễn viên, được nhiều lời khen ngợi như là một điểm son. Nhạc sĩ Nguyên Chi đã hoà lời thơ sâu đậm của Mường Giang vào dòng nhạc tuyệt vời của ông ta.

Một buổi chiều nọ nhạc sĩ Nguyên Chi (tức bác sĩ Nguyễn Lương Chỉ) gọi điện thoại cho tôi hay là ông vừa phổ nhạc xong bài thơ Phan Thiết Ơi, Phan Thiết của anh Mường Giang, và ông kể tôi nghe hôm đọc được bài thơ đó ông đã tràn đầy thi hứng và tạo ngay ý nhạc. Tôi thấy náo nức vì cảm nhân đựợc niềm hạnh phúc của Bs Chỉ khi ông say sưa hát qua điện thoại cho tôi nghe. Những lời thơ của Mường Giang như tiếng chuông ngân của một tấm lòng yêu quê hương chân thành:

Cho ta về bên bờ sông Mường Mán
Gục đầu uống từng ngụm quê hương
Xuôi tay nằm dài trên bãi cạn
Lắng nghe tiếng chim hót kêu sương

Ðể sống lại những ngày còn Phan Thiết
Lầu Ông Hoàng lặng lẽ nhớ người xưa
Ôi nhớ sao tình quê nghe tha thiết
Cho ta đam mê quá khứ phạt phờ

Cho ta về với xóm phường Phan Thiết
Cùng đất trời cuồng loạn những cơn say
Bãi Thương Chánh không còn ai vẫy biệt
Không còn nghe gào thét nổi hờn cay

Cho ta về Bình Hưng xóm chài cô lẻ
Phan bội Châu thời áo trắng học trò
Trong biển mắt chứa chan trời diễm lệ
Trong tim ta réo rắt cả hồn thơ

Hỡi ơi ta đã điên cuồng nhớ
Mơ mộng nên quên nổi đau thương
Ðào khối sầu chôn trong đáy mộ
Phan Thiết ơi còn đó quê hương

(Phan Thiết Ơi, Phan Thiết, thơ Mường Giang, nhạc Nguyên Chi)

Nghe xong ca khúc đó tôi biết mình vừa bắt gặp món ngọc quý đang đi tìm. Thế là tôi bắt tay viết thêm các lời rao đầu, các câu vè, câu hò, lắp vào bài ca phần cuối. Sau 2 tháng tập dượt, cuối cùng nhạc cảnh được hoàn thành. “Phan Thiết Ơi, Phan Thiết” là nhạc cảnh khá công phu, là tiếng yêu tha thiết vang lên tự đáy lòng của người Bình Thuận. Nó là lời đáp đền chung của các người con cùng mang những liên hệ chôn nhao cắt rún với địa danh này. Với sự hỗ trợ và tham dự của nhiều hội đoàn Nam Cali, báo chí và văn nghệ sĩ, Hội TH Bình Thuận đã cống hiến một chương trình văn nghệ mang tính cách văn hoá đặc thù đậm tình quê hương. Các địa danh thân yêu như Hải Long, Thiện Giáo, Hoà Đa, Phan Lý Chàm, Tuy Phong, Phan Rí, Phú Long, Đức Thắng, Đức Nghỉa cùng các món ăn đặc sản địa phương như gỏi cá mai, bánh căn, mì quảng PT, bánh hỏi Phú Long, sò Hải Long, mực Long Hương trong các câu vè được ca tụng như gói ghém các tâm tình và niềm hãnh diện của những người con Bình Thuận. Nhạc cảnh có những lời đặc biệt qua giọng hò Bảo Phương:

Hò ơi...ai về Phan Thiết quê tôi
Nhắn sông Mường Mán chiều ôi nhớ cùng
Hò ơi...mộng về Thương Chánh gió luồn
Gió kia ai ướp để hồn tôi say
Hò ơi...người đi lạc xứ vấn vương
Nhớ về Phan Thiết đôi dòng lệ tuôn


Các hình ảnh kéo lưới, gánh cá, đẩy mái chèo của các ngư phủ mùa Chà trong quần áo nâu đen, khăn rằng quấn cổ, xuyên qua lời ngâm chân tình mát dịu ghi lại được những hình ảnh tuy cực nhọc nhưng đầy sung sướng và hạnh phúc của con người miền biển. Nhắc đến Phan Thiết không thể thiếu màu xanh biển cả và màu cát trắng mịn màng. Các người đẹp của hội TH Bình Thuận thướt tha trong tà áo dài xanh quyến rũ theo các điệu nhạc đã tô điểm cảm giác tươi mát thân yêu cho nhạc cảnh. Ngoài tiết mục chánh đó, đêm nhạc hội còn có sự đóng góp phong phú của Nhật Trường, Mỹ Lan, Mỹ thuý, Thái Tài, Anh Dũng, Bảo Phương v.v...

Nếu nhạc cảnh Tiếng Dân Chài thành công qua tiếng hát của các ca sĩ nổi danh, thì nhạc cảnh Phan Thiết Thiết Ơi Phan Thiết khi được trình diễn tại vũ trường Majestic Nam Cali vào năm 1998 do tiếng hát cây nhà lá vườn như Nguyễn Tư, Mai Minh, Cát Biển, Nguyễn Hưng v.v.. đã được tán thưởng nồng nhiệt của các đồng hương BT đêm đó một cách không ngờ. Đêm đã khuya, màn đã hạ, mọi người khách khác đã rời vũ trường mà các đồng hương vẫn quyến luyến bùi ngùi nắm lấy tay tôi ngỏ lời cảm ơn. Một yếu tố lớn của sự thành công đêm nhạc hội chính là do hứng khởi từ nhạc phẩm “Phan Thiết Thiết Ơi, Phan Thiết”, thơ Mường Giang, nhạc Nguyên Chi.

Mường Giang đã viết, viết rất nhiều. Anh viết như để đền đáp tấm chân tình với quê hương. Từ miền Hạ Uy Di xa xôi bên kia bờ Thái Bình Dương anh luôn góp con tim khối óc bàn tay mình, trong các sinh hoạt văn hoá báo chí của Công Đồng VN hải ngoại. Anh thở theo cùng nhịp đập với con tim của Little Saigon. Anh trọng thầy quý bạn nên mỗi khi thăm viếng bạn bè luôn là cơ hội với những món quà biểu tượng tấm chân tình.

Là một người cùng quê và cùng ý niệm hướng về quê hương, xin gửi lời tri ân với tác giả Mường Giang, một người anh và một người bạn dâng hiến quả tim mình làm đẹp quê hương. Những tác phẩm của Mường Giang, phong phú với nhiều đề tài thể loại khiến cho mọi người không thể nào không thấy ánh sáng chân tình đang chiếu tỏa ra từ một tấm lòng son.

Cát Biển
May 2009

Tuesday, May 5, 2009

Thái Luân và Một Sản Phẩm Kỳ Diệu

0 comments

Thái Luân và Một Sản Phẩm Kỳ Diệu


Cát Biển

Chúng ta hãy hướng về phương Đông và trở về quá khứ thật xa để thưởng thức một công trình có nhiều ý nghĩa.

Nó là một sản phẩm mà ngày nay đã trở thành nhu cầu tối cần thiết của đời sống văn minh. Chính các trang báo, cũng như bất kỳ một quyển sách hay tạp chí nào, đều được in trên nó. Chúng ta dùng nó để gửi những món quà tặng người thân yêu. Các phòng ốc trong nhà được tô điểm bằng nó. Các danh hoạ hay các tác phẩm nghệ thuật đều được in trên nó. Tôn giáo dùng nó để truyền bá những tư tưởng cao thâm. Những hiệp ước quan trọng của thế giới cũng đều được ký trên nó.

"Nó" chính là giấy, một sản phẩm rất cần thiết mà có lẽ chính cả người phát minh ra nó cũng không thể tưởng tượng hết những công dụng lợi ích.

Đi tìm về nguyên thuỷ của những tờ giấy đầu tiên, chúng ta phải ngược về hơn 2000 năm trước với nền văn hoá cổ xưa của Trung Hoa. Khác với địa vị của Trung Hoa ngày nay, vương quốc Trung Hoa từ ngàn xưa đã lừng lẫy dẫn đầu thế giới về văn hoá, kinh tế, và xã hội mải cho đến thế kỹ thứ 16. Đầu thế kỹ thứ 16 các nước Âu Châu mới bắt kịp và vượt trội hơn Trung Hoa với các tiến triển về kỹ thuật và văn hoá.


Theo sử liệu là triều đại của Hậu Đế (Ho Ti), vào những năm khởi đầu của Tây lịch (Tây Lịch dựa trên năm sanh của Đức Chúa Jesus Christ) mà giấy viết đã được phát minh. Hằng mấy trăm năm trước đó, người Tầu đã có tục khắc chữ lên mảng xương hoặc bảng đồng. Họ cũng viết chữ lên thanh trúc, lên lá cây, lên lụa, hoặc lên vải thô... Đối với tất cả vật liệu này chỉ có vải thô là tương đối thực tiễn và tiện lợi nhất để lưu trữ. Tuy nhiên, vào thời này, ngay cả vải vóc cũng rất là hiếm hoi và tốn nhiều công phu mới dệt nên. Một nhân sĩ thời bấy giờ là ông Thái Luân (T'sai Lun) nhận ra sự cần thiết, và ông bỏ nhiều công phu tìm tòi chế biến một loại chất liệu khác để viết chữ tương tự như vải, nhưng thực tiễn và ít tốn kém hơn.

Thái Luân đã chú tâm chế biến loại giấy thô vì ông cần vật liệu để viết chữ. Năm 55 tuổi, sau nhiều cố gắng không đạt được kết quả, một hôm ông dùng vỏ cây dâu giã nát cho nhuyễn, xong trộn thêm với sớ của cây gai, rồi ông bỏ vào nồi đun sôi. Kết quả là một chất đặc sệt có màu ngà trắng, mà khi phết lên khuôn phơi khô thì đông cứng lại thành những "tờ" giấy bồi dầy. Những tờ giấy này có thể được dùng để viết chữ bằng mực lên. Đó cũng chính là những tờ giấy đầu tiên của nhân loại.

Ông đệ trình công trình này lên triều đình Trung Hoa vào năm 105 sau Tây Lịch. Để khen thưởng công lao của ông, vua Hậu Đế ban ông phẩm hàm làm quan của triều đình. Sau đó ông trở thành một vị trọng thần của vua.

Tuy nhiên, nếu công trình của ông quả thật là hữu ích cho nhân loại, Thái Luân lại kém may mắn trong cuộc đời chính trị. Sau khi vua Hậu Đế băng hà, triều đình tấn phong một vị vua mới. Vì sự hiềm khích với một nhân vật khác trong hoàng tộc, gây nên sự nghi kỵ của vị vua mới, ông đã phải uống thuốc độc tự tử năm 118.

Sau khi ông mất đi, các công trình của ông được một đệ tử tiếp nối. Tuy nhiên, những bí quyết làm giấy này mãi hơn 1000 năm sau, tức vào thế kỹ thứ 12, mới bắt đầu được truyền sang Tây Ban Nha năm 1150. Đến thế kỹ thứ 15, khi giấy viết được thịnh hành tại Âu Châu, các nhà máy làm giấy thi nhau được dựng lên với nhiều kỹ thuật ngày một tân kỳ. Giấy thô thì được chế biến bằng những thủ thuật đơn giản. Các loại giấy quý thì dùng các phương thức hoá học phức tạp pha trộn sớ giấy với các hợp chất soda, sulfate hoặc sulfite để tăng vẻ tinh anh và độ bền bỉ của giấy. Nhưng nguyên tắc chính vẫn dựa vào tính chất kết hợp của các tế bào gỗ khi các sớ cây được nghiền nhỏ, phết lên khuôn rồi phơi cho đong khô lại.

Điều đáng chú ý là mãi đến thế kỹ 21 của chúng ta, loài người vẫn không ngừng phát minh chế biến các công dụng mới của giấy. Công ty McDonald đã khởi đầu kỹ nghệ fast food vào thập niên 60 nhờ sáng kiến đựng thức ăn bằng các ly, bao và hộp giấy. Các đại công ty luôn luôn tìm cách hạn chế số lượng giấy khổng lồ mà họ phải đối phó hằng năm. Quý vị luật gia yêu thích giấy "Put it on paper, sir!"... Kỹ nghệ tái-tuần-hoàn (recycling - chế biến hữu dụng lại các sản phẩm đã xài rồi) càng khiến giấy trở nên gần gũi với các nhu cầu hằng ngày của chúng ta hơn. Với sức tưởng tượng vô biên và ngộ nghĩnh của loài người, chắc chắn là chúng ta chưa biết hết các công dụng của giấy, một sản phẩm kỳ diệu đa năng của nhân loại.

Cát Biển

Saturday, May 2, 2009

10 Đôi Mắt Đẹp Nhất Thế Giới

0 comments
10 Đôi Mắt Đẹp Nhất Thế Giới

Bất cứ ai đối diện với các mỹ nhân như Aishwarya Rai, Angelina Jolie hay Elizabeth Taylor cũng bị ánh mắt của họ hút hồn, "chết chìm" trong cái nhìn mê hoặc. Dưới đây là 10 đôi mắt đẹp nhất thế giới theo kết quả bình chọn của trang DHM (Ấn Độ):

Aishwarya Rai từng được tạp chí Time bình chọn là 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới. Cô cũng liên tục lọt vào danh sách những người đẹp nhất thế giới và đôi mắt chính là câu trả lời cho mọi danh hiệu.

Angelina Jolie không chỉ sở hữu một đôi môi gợi cảm, ánh mắt hút hồn của cô cũng khiến cánh mày râu phải chao đảo mỗi khi lỡ nhìn vào đó.

Diễn viên kiêm ca sĩ người Mỹ Lynda Carter từng được trao giải TV Land Award cho vai diễn siêu nhân trong show truyền hình nổi tiếng Wonder Woman năm 2004. Đôi mắt biết nói của cô đã chinh phục không biết bao nhiêu khán giả.

Đôi mắt tím biếc của Elizabeth Taylor quyến rũ bất cứ người nào đối diện.

Đôi mắt ngây thơ của Audrey Herpburn được ví với mắt của một con nai tơ ngơ ngác.

Đôi mắt của cô gái người Afghanistan Sharbat Gula đã tốn không biết bao giấy mực của cánh báo chí. Cô gái mồ côi này lọt vào ống kính máy ảnh của phóng viên chiến trường Steve McCurry khi ở trại tị nạn Pakistan năm 1984. Dư luận xôn xao tìm kiếm và phải đến năm 2002 người ta mới tìm ra danh tính của cô.

MC người Italy Giada De Laurentii có ánh nhìn trìu mến và được khán giả rất ái mộ trong chương trình Everyday Italian.

Cô gái trẻ Kristin Kreuk sở hữu đôi mắt đẹp hút hồn khi vào Lana Lang trong "Thị trấn Smallville".

Sophia Loren có một đôi mắt khiêu khích và gợi cảm.

Charlize Theron có đôi mắt trong và sáng ngời nét thông minh.


Visitors Count

SEO Services

About Me

My email: sn68pbc@yahoo.com -- My Homepage: www.catbien.com