Vì duyên ghé độ thế gian Mang nghìn ánh sáng chiếu đàng tối tăm Ngọc ngà lưu dấu ngàn năm Thấm sâu ruộng phước nẩy mầm sạch trong Lời tim động cả tấm lòng Khát khao trí huệ thoát vòng u minh Cho vui cho cả nghỉa tình Gieo duyên pháp lữ lung linh ánh vàng Giữa vô thường vẫn chói chan Nối xa vô tận đăng quang pháp mầu
Don't... don't you wish we tried? Do you feel what I feel inside? You know our love is stronger than pride... oh No don't... don't let your anger grow Just tell me what you need me to know Please talk to me, don't close the door
Hmmm, 'cause I wanna hear you I wanna be near you
Don't fight, don't argue Give me the chance to say that I'm sorry Just let me love you Don't turn me away Don't tell me to go
Don't!... Don't give up on trust Don't give up on me, on us If we could just hold on long enough
Hmmm, we can do it We'll get through it
Don't fight, don't argue Just give me the chance to say that I'm sorry Just let me love you Don't turn me away, don't tell me to go
Don't pretend that it's okay Things won't get better that way Don't do something you might regret someday... Don't!
Don't give up on me Hmm, Don't! (We can do it) We'll get through it
Don't fight, don't argue Just give me the chance to say that I'm sorry Just let me love you Don't turn me away, don't tell me to go
Don't! (Don't fight dont argue) Don't give up on me (Give me the chance to say that I'm sorry) Say that that I'm sorry (Just let me love you) Don't give up on me (Don't turn me away) Don't tell me to go
Don't! (Don't fight don't argue) Don't give up on me (Give me the chance to say that I'm sorry) Say that that I'm sorry (Just let me love you) Dont give up on me (Don't turn me away) Don't tell me to go...
Performed by: Casey James
You've Got A Way - SHANIA TWAIN
You've got a way with me Somehow you got me to believe In everything that I could be I've gotta say-you really got a way You've got a way it seems You gave me faith to find my dreams You'll never know just what that means Can't you see... you got a way with me
It's in the way you want me It's in the way you hold me The way you show me just what love's made of It's in the way we make love
You've got a way with words You get me smiling even when it hurts There's no way to measure what your love is worth I can't believe the way you get through to me
It's in the way you want me It's in the way you hold me The way you show me just what love's made of It's in the way we make love
Oh, how I adore you Like no one before you I love you just the way you are
It's in the way you want me It's in the way you hold me The way you show me just what love's made of It's in the way we make love
Khi người ta nhập vào dòng chánh, có phải chăng bản sắc dân tộc càng lúc càng bị nhạt nhoà? Hơn ba mươi lăm năm sống trên nước Mỹ, bản sắc Việt Tị Nạn vẫn luôn là yếu tố then chốt để người Việt vươn lên trong mọi lảnh vực. Ngày mới qua trại Orote Point ở Guam xếp hàng đi lãnh thức ăn, lòng tôi đầy mặc cảm và thương tích với những chuyện buồn đau. Những ngày rời bỏ quê hương VN ra đi 35 năm trước, ngậm ngùi với hình ảnh máu lửa, tiếng đạn bom, chết chóc...trên biển cả chập chùng một phương trời vô định lòng thương nhớ quê hương và bao người thân yêu cùng bè bạn, giọt lệ cứ ứa ra:
Mỗi ngày xa quê là một ngày lạc lỏng Mỗi bóng mặt trời là một kiếp khổ sai Mỗi tối hoàng hôn là âm tỳ tủi nhục Mỗi sóng reo đuà là mũi nhọn chởm gai
Giờ đây ba mươi lăm năm nhìn lại. Là người Việt tị nạn, tôi hãnh diện với danh xưng Little Saigon và bản sắc Người Tị Nạn VN yêu chuộng lý tưởng Tự Do trên đất Mỹ. Dầu tôi đang sống ở Nam Cali hay trôi dạt phương nào, lòng tôi vẫn mang niềm tự hào về giá trị biểu tượng của cái tên Little Saigon đầy thân yêu ấy. Nó cho tôi một đặc tính nhân bản về giá trị con người, cái gọi là personal identity. Giống như màu cờ vàng ba sọc đỏ, tên thành phố Little Saigon nói lên quá trình của một công cuộc hi sinh tranh đấu cho Tự Do của người Việt. Nó là tấm gương phấn đấu và kiên nhẫn chung của bao nhiêu người Mỹ gốc Việt. Từ con số không, những con người mất mát khổ đau ấy đã dựng lên thành phố Little Saigon ngay giữa lòng đất Mỹ, với tầm hoạt động và mãi lực đáng kể về kỹ thuật, y khoa, giáo dục, văn nghệ, luật pháp v.v... Bài hát Hai Mươi Năm của nhạc sĩ Phan Văn Hưng vẫn còn vang vọng trong tim tôi
“Hai mươi năm, đàn trẻ thơ nay đã lớn, và chàng trai nay đã già, những người xưa đã nằm xuống và rừng núi đã héo nhoà… Người còn yêu hãy còn nhớ, phải vượt qua những bến bờ.. Phải tìm sâu trong hồn nước, những thoi thóp những mong chờ.. Người còn tha thiết núi sông, thì sẽ thấy cơn mưa nguồn.. Để lặn lội vẫn đi tìm, sẽ thấy đường dấu quê hương...”
Thắm thoát đã được 35 năm. Tôi vẫn nhớ, nhớ rất nhiều, về tuổi ấu thơ thật đẹp của vùng dĩ vãng mà mình đã ngụp lặn trong văn hoá tiếng Việt. Tôi đang sống và nhớ các người bạn đã chết. Cuộc đời ở Hoa Kỳ như cách biệt với quá khứ cũ bằng một dòng sông vô hình nào đó. Một khoảng cách hụt hẫng mà mình phải vượt xuyên qua tâm thức thì mới đến được bến bờ kỷ niệm bên kia, giống như trong phim Back To The Future. Tôi luôn tự hứa là mình phải cố gắng phấn đấu trong dòng văn hoá Mỹ, nhưng sẽ không làm nhạt nhoà nguồn gốc Việt mà tạo hoá đã ban cho tôi.
Thơ Cát Biển Nhạc Phan Ni Tấn Hòa âm Trân Châu Hợp ca: Lan Hương, Như Ngọc Hoa, Xuân Thanh, Vũ Hùng, Cẩm Sa Thu âm & mix: Quốc Toản
Màu cờ vàng ba sọc đỏ Thắm tươi tình đất Việt Nam Như cha ông vẫn thường thiết tha Chết một lần hãy sống cho vinh quang
Màu cờ vàng ba sọc đỏ Sáng tươi tình nước Việt Nam Đây quê cha vẫn đầy bão giông Quyết một lòng gìn giữ quê hương ta
Đi giữa rừng cờ vàng Ngày mới lên trên miền đất hứa Nghe trong lòng rộn ràng Vì có em phất cao ngọn cờ
Giữa lòng thủ đô Mắt người ngời sáng Phất ngọn cờ lên !
Màu cờ vàng ba sọc đỏ Sáng trên màu áo của em Lời hào hùng đi từ trái tim Quyết một lòng thề chết cho quê hương
Người gọi người trong lòng nở Đóa hoa rực rỡ Việt Nam Người cùng người đi từ máu xương Có màu cờ nhuộm thắm sử xanh
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Cờ vàng ba sọc đỏ được dùng làm quốc kỳ cho Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Ðại thành lập năm 1948. Lá cờ này cũng được tiếp tục dùng cho Nước Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Ðình Diệm thành lập ngày 26/10/1956. Từ sau năm 1975, cờ vàng ba sọc đỏ vẫn tiếp tục tung bay tại các trại tị nạn ở Ðông Nam Á và tại những nơi định cư của người Việt chống chế độ độc tài Cộng Sản. Cờ vàng ba sọc đỏ có mặt trong hầu hết các buổi sinh hoạt tập thể, có tính hội đoàn và cộng đồng, kể cả văn hoá, xã hội, tôn giáo, v.v. của người Việt ra đi từ miền Nam. Hơn ba mươi năm qua, việc sử dụng cờ vàng ba sọc đỏ như một ngọn cờ tụ nghĩa và đấu tranh đã và đang đem lại nhiều kết quả tích cực, góp phần hóa giải những xung khắc trong cộng đồng người Việt và khiến cho cờ đỏ sao vàng hầu như không có chỗ đứng công khai và trước đám động tại hải ngoại. Tinh thần cờ vàng ba sọc đỏ là tinh thần chính nghĩa Tự Do của Người Việt Tị Nạn khắp nơi cùng nêu cao.
Năm 1831, lúc mà cả thế giới Tây Phương còn đang khâm phục nhà Vật Lý Học Michael Faraday với những khám phá độc đáo của ông về hiện tượng cảm ứng điện từ - tức electromagnetic induction - mà đã là nguồn gốc mỡ màn cho sự phát minh của các máy phát điện cho nhân lọai sau này, thì cậu bé có tên James Clerk Maxwell chỉ vừa mới cất tiếng oe oe chào đời.
Ngày nay, trong khi chúng ta đang hưỡng thụ những tiện nghi được phát triển triền miên không ngừng nghĩ từ những công trình nghiên cứu của James Clerk Maxwell như radio, TV, điện thoại viễn liên, cellular phone v.v.. và nhất là chiếc microwave oven tối cần thiết của mọi gia đình, nhân loại có ngờ đâu cậu bé ấy sau đó đã trỡ thành một nhà Vật Lý Học lừng lẫy nhất của thế kỹ 19.
Những lý thuyết của ông bao trùm sự nghiên cứu và khã năng tư duy của các bộ óc tinh khôn nhất của nhân loại, đi xa thẵm vào những chiều hướng trừu tượng vô hình của vũ trụ, khác hẳn với những kiến thức hửu hình của vật chất mà loài người đang quen thuộc. Vì những công trình tận tụy miệt mài nghiên cứu và những phương trình chứng minh mới của ông, loài người nhận thức được những giớI hạn mới, những biên giới mới, những phạm trù mới mà hệ thống lý thuyết Vật Lý đang áp dụng đương thời bỗng không còn được thích ứng nữa, mà phải nhường chổ cho một lý thuyết độc đáo mới của Maxwell.
Nhà bác học Michael Faraday trước đó đã nêu ra một số lý thuyết mới rất lạ lùng, hấp dẩn nhưng chưa được chứng minh bằng thí nghiệm. Maxwell là người đặt trọn niềm tin vào thuyết của Faraday, và tự hứa chính ông sẽ chứng minh được thuyết của Faraday bằng thử nghiệm. Ông miệt mài đúc kết được tập khảo luận đầu tiên mang tên "Nghiên Cứu Về Lực Tuyến Hệ Của Faraday" - tức "On Faraday's Lines of Force", mà ông đã kiến trúc được một mô hình căn bản về từ trường, mà những kẽ đương thời chế giểu là lạ lùng và phức tạp. Dựa trên những khái niệm đơn giản, thô thiển về đặc tính của dòng điện, một số người cố chấp cho ông là kỳ quặc vì các thí nghiệm trong phòng nghiên cứu của ông đầy các giây điện lòng thòng với những ống tuýp và các lọ hóa học ngỗn ngang. Tuy nhiên chính tập khảo cứu này đã bắt được cặp mắt thích thú và khâm phục của nhà Vật Lý Học lỗi lạc đương thời Faraday.
Danh tiếng của Maxwell sau đó được vang dậy với tập khảo cứu thứ nhì mang tên "Nghiên Cựu Về Lực Tuyến Hệ Của Vật Lý" - tức "On Physical Lines of Forces", mà ông có công khai triễn thêm về những tương quan giữa dòng điện và Từ Trường, với các đặc tính trừu tượng.
Sau đó ông khám phá ra điều bí ẫn kỳ thú là các luồng sóng ánh sáng và dòng điện đều di chuyễn chung một vận tốc. Điều này ám chỉ một sự liên hệ mật thiết giữa các quang tử (là một chất vô thể) và điện tử (là chất hửu thể). Chính khám phá này đưa đến một kết luận cực kỳ thích thú và quan trọng là chính các đơn vị ánh sáng (quang tử) hẳn cũng là sự kết hợp từ các luồng sóng điện từ. Nếu điều này là đúng, thì những biến động (gọi là disturbances) của ánh sáng hẳn phải do những luồng sóng điện khác cấu thành. Những chấn động quang tính này không thể nào phát hiện được bằng mắt thường, mà chỉ có thể được chứng minh một cách gián tiếp bằng cách đo lường những phản ứng điện đo từ những hiện tượng liên hệ, rồi phải giải thích thêm bằng lý thuyết bổ sung.
Khi Maxell ấn hành những khám phá này trong quyễn sách thứ ba mang tên "Lý Thuyết Động Lực của Từ Trường" vào năm 1865, thì chính tập khảo cứu này lại gây nên những chấn động trong giới bác học đương thời. Hàng trăm khoa học gia khắp nơi đã cùng thi đua tìm cách chứng minh sự hửu tính của các luồng sóng điện vô hình này.
Nhưng mãi cho đến năm 1889, tức là 10 năm sau khi Maxwell đã ra người thiên cổ, nhà vật lý học Heinrich Hertz mới biểu thị được sự hiện hửu của các luồng sóng vô tuyến điện đầu tiên, và chính tên ông Hertz đã được tri ân, dùng để làm đơn vị đo độ dài sóng. Dĩ nhiên là chính các công trình nghiên cứu của Maxwell đã đóng góp sâu xa vào tiến trình chung đó của nhân loại.
Trỡ về với việc học hỏi và sáng tạo, đối với các sinh viên đại học tức là những khoa học gia tương lai của chúng ta (nhất là ngành điện) mà hiện vẫn còn bù đầu với những phương trình rắc rối của Maxwell, hảy tưỡng tượng thế giới sẽ thiếu tiện nghi đến mức nào nếu chúng ta bỗng dưng ngày nào đó mất đi những phương tiện truyền thông của radio và TV, cell phone, hoặc mất đi sự tiện lợi của chiếc microwave oven?
Thơ Cát Biển Nhạc Thiên Anh Hòa âm: Trần Hải Bằng Ca sĩ: Kyra Nguyen
Ngày xưa mẹ về con ra ôm mẹ Mẹ cho trái ổi Mẹ cho củ khoai Chiều chiều mong mẹ để nghe tiếng chân Nghe tên mẹ gọi nghe hạnh phúc gần
Rồi con rời mẹ vào học trường xa Phương người cô lẻ chạnh nhớ mái nhà Có hôm mẹ gửi nồi cá nục kho Kèm thêm lá thư ..lệ thương nhạt nhòa ..từng chữ nhạt nhòa..
Tủi hờn ly biệt Tháng Tư vĩnh quyết Cùng mẹ lênh đênh theo dòng định mệnh Xứ người xa lạ học nói tiếng Anh Mẹ đi cứ lạc ốc đảo vây quanh
Hai lần đột quỵ Mẹ đuối biển đời Một hôm sầu thảm Mẹ bỏ con đi Ơn sâu nghĩa nặng từ buổi sơ sanh Đất trời hoang vắng ngày lá lìa cành
Xưa bước chân mẹ mang quà tuổi thơ Chiều bên nắng nhẹ hồn trẻ ngóng chờ Ngày nào nghe lại tiếng chim gọi đàn Ngày nào con mẹ ấm vòng tay đan
Một chốn bình yên quẳng gánh ưu phiền Thành tâm con nguyện Mẹ bước an nhiên
Tôi đọc bài thơ Trăng Nghẹn của tác giả Hoài Tường Phong (Cần Thơ) đầy xúc động. Bài thơ Trăng Nghẹn là một bài thơ sâu sắc với từ ngữ bình dị mà sức công phá mãnh liệt. Những lời lẻ gần gũi chân chất mà mang đầy xót xa của một thế hệ đi vào ngỏ cụt không tương lai, không lý tưởng, không ý nghỉa (tức hình ảnh của Trăng). Bài thơ Trăng Nghẹn nói lên niềm đau thương - không riêng gì của thế hệ tuổi trẻ 17, 20 mà của cả một dân tộc không lối thoát. Họ càng từ khước Giải Nhất của bài thơ này lại càng làm Trăng Nghẹn nổi tiếng khắp nơi. Cát Biển
TRĂNG NGHẸN
Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa, Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn. Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống, Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.
Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang, Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp. Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác, Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.
Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen, Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ. Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó, Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.
Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi, Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm. Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá, Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.
Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn, Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ. Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu, Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.
Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê, Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu. Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu, Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.
Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi: Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất, Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất, Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.
Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn, Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ. Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ, Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.
Alfred Bernhard Nobel Và Giải Thưởng Cao Quý (NHỮNG NHÂN VẬT LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI)
Nobel, giải thưỡng cao quý nhất của thế giới mang tên người đặt ra nó, là biểu tượng của cả sự hủy hoại lẫn sự xây dựng.
Nó mang tên một nhân vật đã tạo cho nhân loại một sức tàn phá kinh khủng. Khác hẳn muôn thú, loài người tuy không có nanh vuốt nhưng khi vận dụng khối óc lại có khả năng hủy diệt vô số vật chất. Nhờ vào sản phẩm của ông Nobel, loài người có thể khai phá đường hầm, thiết lập đường xe lửa, đào đá dưới lòng sông, phá núi, khai khẩn địa thế, chế ngự thiên nhiên để tái thiết môi trường sống cho thích hợp hơn với đời sống văn minh của kỹ thuật - mở đầu cho kỹ nguyên cơ giới.
Hằng năm các giải Nobel được trao tặng cho những công trình nghiên cứu lỗi lạc nhất của loài người. Các giải Nobel cao quý đó được tặng cho những người khắp thế giới mà các khám phá của họ đã đóng góp sâu xa vào sự tiến hóa của nhân loại.
Ngoài giá trị tinh thần vô biên của giải Nobel, số tiền thưởng to lớn của các giải này được trích ra từ lợi tức của một sản nghiệp kếch sù do ông Nobel tạo dựng nên từ những phát minh có năng lực tàn phá hủy hoại của ông. Sở nguyện của ông khi chết đi là dùng nguồn lợi tức này làm động lực để khuyến khích tác động những công trình vĩ đại của khoa học, văn chương, và hòa bình của thế giới, tức là ngược lại vớI sự hủy hoại mà nguồn tài trợ này đã được sinh sản từ nó. Và như vậy có phải chăng sự tàn phá lại tác tạo nên những cơ duyên cho những mầm mống xây dựng khác, cấu tác nên một tiến trình sinh huỷ vô tận của vũ trụ.
Alfred Bernhard Nobel chào đời ngày 21 tháng 10 năm 1833 tại Stockholm, thuộc vương quốc Thụy Điển. Ông được sinh ra trong một gia đình nỗi tiếng về kỹ thuật máy chạy hơi nước (steam engine) là một kỹ nghệ tối quan trọng thi bấy giờ để tạo sức đẩy cho các đầu máy xe lửa và các máy móc kỹ nghệ khác, mà đã khai phóng nên một tiến trình đồng loạt được mệnh danh là cuộc Cách Mạng Cơ Giới. Ngoài ra, cha ông cũng khuếch trương nghành đúc đồ sắt và đúc ống kim khí. Khi đến tuổi trưỡng thành, ông được gởi đi du học ngoại quốc (Âu Châu) để mỡ mang kiến thức.
Chiến tranh Crimean War sau đó đã bùng nổ năm 1856 tại Thụy Điển. Vì chiến tranh, các công việc làm ăn cố hửu của gia đình ông bị xuống dốc. Để gầy dựng sản nghiệp trỡ lại, Alfred và thân phụ của ông bắt đầu chú ý tới một sản phẩm của chiến tranh là một loại chất nổ có tiềm lực tàn phá kinh khủng vừa được phát minh, là chất Nitroglycerine. Vào thời đó thuốc súng đã được dùng khắp nơi. Tuy nhiên chất Nitroglycerine nguy hiểm này có nhiều triển vọng trong các dự án khai phóng thiết kế cầu cống đường xá, vì chỉ một dung lượng nhỏ bé của nó cũng đủ đ gây một sức nổ có tầm công phá cực mạnh.
Sau sáu năm theo đuổi, thân phụ ông Alfred cuối cùng đã hoàn tất được kỹ thuật thiết lập xưỡng chế tạo chất Nitroglycerine một cách an toàn và hửu hiệu. Song song với cha, ông Alfred dồn nỗ lực vào kỹ thuật chế tạo các hột nổ và ngòi đánh nổ. Kỹ thuật đánh ngòi và hột nổ rất quan trọng. Nếu kỹ thuật đánh ngòi và hột nổ đạt được sự an toàn và thực dụng thì cùng với kỹ nghệ sản xuất chất Nitroglycerine, gia đình ông sẽ nắm giử một trong những kỹ thuật thiết yếu nhất thời bấy giờ. Ngày ông Nobel đạt được hoàn mãn kỹ thuật chế tạo hột nổ, ông biết là ông vừa hoàn tất một sãn phẩm rất nguy hiễm nhưng cũng tối cần thiết cho sự tiến hóa của nhân loại.
Ông Alfred Nobel nhận thấy các quả cốt mìn dynamite thời bấy giờ tuy không có sức công phá mãnh liệt như chất Nitroglycerine, nhưng lại khá an toàn cho người xử dụng nó. Ông đổ nhiều công trình thí nghiệm tìm tòi để cấu tạo một chất mới, vừa có được sức nổ mãnh liệt của Nitroglycerine mà lại có thể dể xữ dụng như chất dynamite. Kết quả là hợp chất blasting gelatine, một chất đặt sệt như keo, hổn hợp của Nitroglycerine và guncotton (thuốc súng), hai chất nổ cực kỳ kinh khũng nhất thời bấy giờ.
Suốt sự nghiệp của ông, rất nhiều dự án phá rừng phá núi những tưởng là đội đá vá trời đầy nhiêu khê, đã được hoàn tất được nhờ vào khã năng chế ngự thiên nhiên của chất nổ. Loài người đã có thêm năng lực đào kinh, vét sông, xẻ núi, xây cất đường hầm, đường xe lửa v.v.. Giao thông và thương mại lân bang được thiết lập khắp nơi làm thành những giao thương mới, những động lực mới, những nhu cầu mới, cho các công trình kiến thiết ngày thêm một phức tạp và vĩ đại khác.
Trước khi từ trần vào năm 1936, ông Nobel quy định rằng tài sản của ông phải được quản trị và đầu tư. Số tiền lời hằng năm được phân trích ra để hiến tặng cho những người khắp các nơi trên thế giới mà đã có công dâng hiến đóng góp nhiều nhất sự nghiệp của họ cho sự tiến hóa của nhân loại trong các lãnh vực Vật Lý, Hóa Học, Sinh Lý Học, Y Khoa, Kinh Tế, Văn Chương và Hoà Bình Thế Giới...
Có lời nói vô âm Con chiến mã hiên ngang phóng đi Nhờ cái bóng của ngọn roi da Tư duy mang ánh sáng Thanh tịnh là tìm về thường hằng Nhẫn là thuyền đưa đến bờ
Người thợ xây căn nhà Đã được nhận diện Hiện hữu tức khoảng trống Hiện tại là an vui
Đêm tỉnh thức Xin cảm ơn đời Đối diện hư ảo Và can đảm bước lên
Bao năm vẫn đi tìm cùng khắp Có biết rằng nó ngụ trong chính ta