Friday, March 19, 2010

James Clerk Maxwell Và Lực Tuyến Hệ

0 comments

James Clerk Maxwell Và Lực Tuyến Hệ

(NHỮNG NHÂN VẬT LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI)

Năm 1831, lúc mà cả thế giới Tây Phương còn đang khâm phục nhà Vật Lý Học Michael Faraday với những khám phá độc đáo của ông về hiện tượng cảm ứng điện từ - tức electromagnetic induction - mà đã là nguồn gốc mỡ màn cho sự phát minh của các máy phát điện cho nhân lọai sau này, thì cậu bé có tên James Clerk Maxwell chỉ vừa mới cất tiếng oe oe chào đời.

Ngày nay, trong khi chúng ta đang hưỡng thụ những tiện nghi được phát triển triền miên không ngừng nghĩ từ những công trình nghiên cứu của James Clerk Maxwell như radio, TV, điện thoại viễn liên, cellular phone v.v.. và nhất là chiếc microwave oven tối cần thiết của mọi gia đình, nhân loại có ngờ đâu cậu bé ấy sau đó đã trỡ thành một nhà Vật Lý Học lừng lẫy nhất của thế kỹ 19.

Những lý thuyết của ông bao trùm sự nghiên cứu và khã năng tư duy của các bộ óc tinh khôn nhất của nhân loại, đi xa thẵm vào những chiều hướng trừu tượng vô hình của vũ trụ, khác hẳn với những kiến thức hửu hình của vật chất mà loài người đang quen thuộc. Vì những công trình tận tụy miệt mài nghiên cứu và những phương trình chứng minh mới của ông, loài người nhận thức được những giớI hạn mới, những biên giới mới, những phạm trù mới mà hệ thống lý thuyết Vật Lý đang áp dụng đương thời bỗng không còn được thích ứng nữa, mà phải nhường chổ cho một lý thuyết độc đáo mới của Maxwell.

Nhà bác học Michael Faraday trước đó đã nêu ra một số lý thuyết mới rất lạ lùng, hấp dẩn nhưng chưa được chứng minh bằng thí nghiệm. Maxwell là người đặt trọn niềm tin vào thuyết của Faraday, và tự hứa chính ông sẽ chứng minh được thuyết của Faraday bằng thử nghiệm. Ông miệt mài đúc kết được tập khảo luận đầu tiên mang tên "Nghiên Cứu Về Lực Tuyến Hệ Của Faraday" - tức "On Faraday's Lines of Force", mà ông đã kiến trúc được một mô hình căn bản về từ trường, mà những kẽ đương thời chế giểu là lạ lùng và phức tạp. Dựa trên những khái niệm đơn giản, thô thiển về đặc tính của dòng điện, một số người cố chấp cho ông là kỳ quặc vì các thí nghiệm trong phòng nghiên cứu của ông đầy các giây điện lòng thòng với những ống tuýp và các lọ hóa học ngỗn ngang. Tuy nhiên chính tập khảo cứu này đã bắt được cặp mắt thích thú và khâm phục của nhà Vật Lý Học lỗi lạc đương thời Faraday.

Danh tiếng của Maxwell sau đó được vang dậy với tập khảo cứu thứ nhì mang tên "Nghiên Cựu Về Lực Tuyến Hệ Của Vật Lý" - tức "On Physical Lines of Forces", mà ông có công khai triễn thêm về những tương quan giữa dòng điện và Từ Trường, với các đặc tính trừu tượng.

Sau đó ông khám phá ra điều bí ẫn kỳ thú là các luồng sóng ánh sáng và dòng điện đều di chuyễn chung một vận tốc. Điều này ám chỉ một sự liên hệ mật thiết giữa các quang tử (là một chất vô thể) và điện tử (là chất hửu thể). Chính khám phá này đưa đến một kết luận cực kỳ thích thú và quan trọng là chính các đơn vị ánh sáng (quang tử) hẳn cũng là sự kết hợp từ các luồng sóng điện từ. Nếu điều này là đúng, thì những biến động (gọi là disturbances) của ánh sáng hẳn phải do những luồng sóng điện khác cấu thành. Những chấn động quang tính này không thể nào phát hiện được bằng mắt thường, mà chỉ có thể được chứng minh một cách gián tiếp bằng cách đo lường những phản ứng điện đo từ những hiện tượng liên hệ, rồi phải giải thích thêm bằng lý thuyết bổ sung.

Khi Maxell ấn hành những khám phá này trong quyễn sách thứ ba mang tên "Lý Thuyết Động Lực của Từ Trường" vào năm 1865, thì chính tập khảo cứu này lại gây nên những chấn động trong giới bác học đương thời. Hàng trăm khoa học gia khắp nơi đã cùng thi đua tìm cách chứng minh sự hửu tính của các luồng sóng điện vô hình này.

Nhưng mãi cho đến năm 1889, tức là 10 năm sau khi Maxwell đã ra người thiên cổ, nhà vật lý học Heinrich Hertz mới biểu thị được sự hiện hửu của các luồng sóng vô tuyến điện đầu tiên, và chính tên ông Hertz đã được tri ân, dùng để làm đơn vị đo độ dài sóng. Dĩ nhiên là chính các công trình nghiên cứu của Maxwell đã đóng góp sâu xa vào tiến trình chung đó của nhân loại.

Trỡ về với việc học hỏi và sáng tạo, đối với các sinh viên đại học tức là những khoa học gia tương lai của chúng ta (nhất là ngành điện) mà hiện vẫn còn bù đầu với những phương trình rắc rối của Maxwell, hảy tưỡng tượng thế giới sẽ thiếu tiện nghi đến mức nào nếu chúng ta bỗng dưng ngày nào đó mất đi những phương tiện truyền thông của radio và TV, cell phone, hoặc mất đi sự tiện lợi của chiếc microwave oven?

Cát Biển

Wednesday, March 17, 2010

Tuổi Trẻ Tôi Tuổi Trẻ Em

1 comments

Tuổi Trẻ Tôi Tuổi Trẻ Em

Đời cho thân ta một kiếp làm người
Nguyện đem vinh quang rọi ánh mặt trời
Từ bóng đêm khơi lên ngọn lửa
Từ u mê gióng chuông dậy đi

Máu tim kiêu hùng Việt Nam tuổi trẻ
Tuổi trẻ cha anh đi tìm lý tưởng
Vì quê hương tuổi xuân dâng hiến
Vì tự do dẫu có hiểm nguy

Tuổi Trẻ Tôi Tuổi Trẻ Em
Thanh niên Việt Nam kiêu dũng
Hãy bước tới đi đến cùng
Đốt ngời lên ngọn đuốc tự do

Tuổi Trẻ Tôi Tuổi Trẻ Em
Một mũi tên chống bạo tàn
Một pháo đài chống bất công
Một thành trì giữ núi sông

Tuổi trẻ em nêu cao chí làm người
Đòi hỏi Công Bằng giữa những bất công
Đòi quê hương từ quân tham ác
Đòi nhân quyền dẫu bước cùm gông

Tự Do đây tuổi trẻ Việt Nam
Mang oai linh kiêu dũng đứng lên
Công Lý chiếu ngời từ ngục tù tối tăm
Bóng em tỏa đầy sông núi Việt Nam


Cát Biển
15-March-2010


Mẹ Yêu Thương (Nhạc)

0 comments
Mẹ Yêu Thương

Thơ Cát Biển
Nhạc Thiên Anh
Hòa âm: Trần Hải Bằng
Ca sĩ: Kyra Nguyen


Ngày xưa mẹ về con ra ôm mẹ
Mẹ cho trái ổi Mẹ cho củ khoai
Chiều chiều mong mẹ để nghe tiếng chân
Nghe tên mẹ gọi nghe hạnh phúc gần

Rồi con rời mẹ vào học trường xa
Phương người cô lẻ chạnh nhớ mái nhà
Có hôm mẹ gửi nồi cá nục kho
Kèm thêm lá thư ..lệ thương nhạt nhòa
..từng chữ nhạt nhòa..

Tủi hờn ly biệt Tháng Tư vĩnh quyết
Cùng mẹ lênh đênh theo dòng định mệnh
Xứ người xa lạ học nói tiếng Anh
Mẹ đi cứ lạc ốc đảo vây quanh

Hai lần đột quỵ Mẹ đuối biển đời
Một hôm sầu thảm Mẹ bỏ con đi
Ơn sâu nghĩa nặng từ buổi sơ sanh
Đất trời hoang vắng ngày lá lìa cành

Xưa bước chân mẹ mang quà tuổi thơ
Chiều bên nắng nhẹ hồn trẻ ngóng chờ
Ngày nào nghe lại tiếng chim gọi đàn
Ngày nào con mẹ ấm vòng tay đan

Một chốn bình yên quẳng gánh ưu phiền
Thành tâm con nguyện Mẹ bước an nhiên

Cát Biển
22-Dec-2009

Friday, March 12, 2010

Bài thơ Trăng Nghẹn của tác giả Hoài Tường Phong

0 comments
Tôi đọc bài thơ Trăng Nghẹn của tác giả Hoài Tường Phong (Cần Thơ) đầy xúc động.
Bài thơ Trăng Nghẹn là một bài thơ sâu sắc với từ ngữ bình dị mà sức công phá mãnh liệt.
Những lời lẻ gần gũi chân chất mà mang đầy xót xa của một thế hệ đi vào ngỏ cụt không tương lai, không lý tưởng, không ý nghỉa (tức hình ảnh của Trăng).
Bài thơ Trăng Nghẹn nói lên niềm đau thương - không riêng gì của thế hệ tuổi trẻ 17, 20 mà của cả một dân tộc không lối thoát.
Họ càng từ khước Giải Nhất của bài thơ này lại càng làm Trăng Nghẹn nổi tiếng khắp nơi.

Cát Biển


TRĂNG NGHẸN

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.

Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.

Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.

Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.

HOÀI TƯỜNG PHONG
(Cần Thơ)

Saturday, February 20, 2010

Lời Của Dấu Yêu (Nhạc)

0 comments

Lời Của Dấu Yêu

Thơ Cát Biển
Nhạc Nguyễn Minh Châu
Hòa âm: NMC & Nguyễn Long Khánh
Ca sĩ: Tiểu Muội

Ngày nào chợt giọng nói em
Vừa ghé rất sâu tim ta
Chợt thấy niềm vui ứa tràn
Chợt thấy lệ nào đã tan

Một ngày đời muôn ánh vàng
Cho ta khát khao cuộc sống
Như bóng đêm vào ánh sáng
Như bóng tối tìm lối thiên đàng

Huyền diệu như giòng sông chứa chan
Vì bên em có mây dịu dàng
Vì nơi em nụ cười tươi sáng
Vì yêu em ta biết yêu nhân gian

Ngày nào chợt đôi mắt em
Vừa đến dấu yêu nhắn trao
Cho ta màu sắc ấm nồng
Cho ta bao điều ước mong

Nguyện cầu từ trong bóng đêm
từng sớm từng sớm mai
từng đóm sao từng ánh trăng
Cho ta bước qua vô thường

Và dẫu có là một phút giây
Và dẫu chỉ là thoáng mây
Thì em là vĩnh viễn
trái tim này

Cát Biển
12-05-2009

Saturday, February 13, 2010

Phương Nào Gặp Lại Nhau (Nhạc)

0 comments
Phương Nào Gặp Lại Nhau

Thơ: Cát Biển
Nhạc: Nguyễn Minh Châu
Hòa âm: Cao Ngọc Dung
Ca sĩ: Kyra Nguyen


Phương ấy là đâu
Người mang hồn tôi đi biền biệt
Xa lạ mùa trăng
Nguyện cầu ngày tháng bình yên

Về với lặng im ta
Dư âm tiếng người trong tâm khảm
Vòng thời gian chậm lại
Chờ mong khoảnh khắc của đêm ngày

Mây vẫn còn trôi
Lặng hỏi nơi nào cho mây nghỉ
Xin chớ rời nhau
Đêm trường còn quạnh quẻ cô miên

Còn bờ cỏ non êm
Tìm nhau nơi đỉnh mơ ngày cũ
Người đừng quên ước hẹn
Dẫu ngàn năm hay vô lượng tương lai

Như biển thì thầm
Xin đời đáp lời van của sóng
Người hãy về đây
Đan dấu chân nồng ấm bên nhau

Đêm ngắm nhìn sao
Đếm bao vòng quay nhân thế
Mình đã hẹn nhau
Nơi này hay một cõi rất xa


Cát Biển
26-Dec-2009

Thursday, February 11, 2010

Alfred Bernhard Nobel Và Giải Thưởng Cao Quý

0 comments

Alfred Bernhard Nobel Và Giải Thưởng Cao Quý
(NHỮNG NHÂN VẬT LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI)

Nobel, giải thưỡng cao quý nhất của thế giới mang tên người đặt ra nó, là biểu tượng của cả sự hủy hoại lẫn sự xây dựng.

Nó mang tên một nhân vật đã tạo cho nhân loại một sức tàn phá kinh khủng. Khác hẳn muôn thú, loài người tuy không có nanh vuốt nhưng khi vận dụng khối óc lại có khả năng hủy diệt vô số vật chất. Nhờ vào sản phẩm của ông Nobel, loài người có thể khai phá đường hầm, thiết lập đường xe lửa, đào đá dưới lòng sông, phá núi, khai khẩn địa thế, chế ngự thiên nhiên để tái thiết môi trường sống cho thích hợp hơn với đời sống văn minh của kỹ thuật - mở đầu cho kỹ nguyên cơ giới.

Hằng năm các giải Nobel được trao tặng cho những công trình nghiên cứu lỗi lạc nhất của loài người. Các giải Nobel cao quý đó được tặng cho những người khắp thế giới mà các khám phá của họ đã đóng góp sâu xa vào sự tiến hóa của nhân loại.

Ngoài giá trị tinh thần vô biên của giải Nobel, số tiền thưởng to lớn của các giải này được trích ra từ lợi tức của một sản nghiệp kếch sù do ông Nobel tạo dựng nên từ những phát minh có năng lực tàn phá hủy hoại của ông. Sở nguyện của ông khi chết đi là dùng nguồn lợi tức này làm động lực để khuyến khích tác động những công trình vĩ đại của khoa học, văn chương, và hòa bình của thế giới, tức là ngược lại vớI sự hủy hoại mà nguồn tài trợ này đã được sinh sản từ nó. Và như vậy có phải chăng sự tàn phá lại tác tạo nên những cơ duyên cho những mầm mống xây dựng khác, cấu tác nên một tiến trình sinh huỷ vô tận của vũ trụ.

Alfred Bernhard Nobel chào đời ngày 21 tháng 10 năm 1833 tại Stockholm, thuộc vương quốc Thụy Điển. Ông được sinh ra trong một gia đình nỗi tiếng về kỹ thuật máy chạy hơi nước (steam engine) là một kỹ nghệ tối quan trọng thi bấy giờ để tạo sức đẩy cho các đầu máy xe lửa và các máy móc kỹ nghệ khác, mà đã khai phóng nên một tiến trình đồng loạt được mệnh danh là cuộc Cách Mạng Cơ Giới. Ngoài ra, cha ông cũng khuếch trương nghành đúc đồ sắt và đúc ống kim khí. Khi đến tuổi trưỡng thành, ông được gởi đi du học ngoại quốc (Âu Châu) để mỡ mang kiến thức.

Chiến tranh Crimean War sau đó đã bùng nổ năm 1856 tại Thụy Điển. Vì chiến tranh, các công việc làm ăn cố hửu của gia đình ông bị xuống dốc. Để gầy dựng sản nghiệp trỡ lại, Alfred và thân phụ của ông bắt đầu chú ý tới một sản phẩm của chiến tranh là một loại chất nổ có tiềm lực tàn phá kinh khủng vừa được phát minh, là chất Nitroglycerine. Vào thời đó thuốc súng đã được dùng khắp nơi. Tuy nhiên chất Nitroglycerine nguy hiểm này có nhiều triển vọng trong các dự án khai phóng thiết kế cầu cống đường xá, vì chỉ một dung lượng nhỏ bé của nó cũng đủ đ gây một sức nổ có tầm công phá cực mạnh.

Sau sáu năm theo đuổi, thân phụ ông Alfred cuối cùng đã hoàn tất được kỹ thuật thiết lập xưỡng chế tạo chất Nitroglycerine một cách an toàn và hửu hiệu. Song song với cha, ông Alfred dồn nỗ lực vào kỹ thuật chế tạo các hột nổ và ngòi đánh nổ. Kỹ thuật đánh ngòi và hột nổ rất quan trọng. Nếu kỹ thuật đánh ngòi và hột nổ đạt được sự an toàn và thực dụng thì cùng với kỹ nghệ sản xuất chất Nitroglycerine, gia đình ông sẽ nắm giử một trong những kỹ thuật thiết yếu nhất thời bấy giờ. Ngày ông Nobel đạt được hoàn mãn kỹ thuật chế tạo hột nổ, ông biết là ông vừa hoàn tất một sãn phẩm rất nguy hiễm nhưng cũng tối cần thiết cho sự tiến hóa của nhân loại.

Ông Alfred Nobel nhận thấy các quả cốt mìn dynamite thời bấy giờ tuy không có sức công phá mãnh liệt như chất Nitroglycerine, nhưng lại khá an toàn cho người xử dụng nó. Ông đổ nhiều công trình thí nghiệm tìm tòi để cấu tạo một chất mới, vừa có được sức nổ mãnh liệt của Nitroglycerine mà lại có thể dể xữ dụng như chất dynamite. Kết quả là hợp chất blasting gelatine, một chất đặt sệt như keo, hổn hợp của Nitroglycerine và guncotton (thuốc súng), hai chất nổ cực kỳ kinh khũng nhất thời bấy giờ.

Suốt sự nghiệp của ông, rất nhiều dự án phá rừng phá núi những tưởng là đội đá vá trời đầy nhiêu khê, đã được hoàn tất được nhờ vào khã năng chế ngự thiên nhiên của chất nổ. Loài người đã có thêm năng lực đào kinh, vét sông, xẻ núi, xây cất đường hầm, đường xe lửa v.v.. Giao thông và thương mại lân bang được thiết lập khắp nơi làm thành những giao thương mới, những động lực mới, những nhu cầu mới, cho các công trình kiến thiết ngày thêm một phức tạp và vĩ đại khác.

Trước khi từ trần vào năm 1936, ông Nobel quy định rằng tài sản của ông phải được quản trị và đầu tư. Số tiền lời hằng năm được phân trích ra để hiến tặng cho những người khắp các nơi trên thế giới mà đã có công dâng hiến đóng góp nhiều nhất sự nghiệp của họ cho sự tiến hóa của nhân loại trong các lãnh vực Vật Lý, Hóa Học, Sinh Lý Học, Y Khoa, Kinh Tế, Văn Chương và Hoà Bình Thế Giới...

Cát Biển

Bình An

1 comments

Bình An

Có lời nói vô âm
Con chiến mã hiên ngang phóng đi
Nhờ cái bóng của ngọn roi da
Tư duy mang ánh sáng
Thanh tịnh là tìm về thường hằng
Nhẫn là thuyền đưa đến bờ

Người thợ xây căn nhà
Đã được nhận diện
Hiện hữu tức khoảng trống
Hiện tại là an vui

Đêm tỉnh thức
Xin cảm ơn đời
Đối diện hư ảo
Và can đảm bước lên

Bao năm vẫn đi tìm cùng khắp
Có biết rằng nó ngụ trong chính ta


Cát Biển
10-Feb-2010

Monday, January 18, 2010

Sao Đêm (Nhạc)

0 comments
Sao Đêm

Thơ Cát Biển
Nhạc Nguyễn Minh Châu
Ca sĩ Mây Tím


Hôm nào lời trao
Giọt ấm tình dâng chứa chan
Đêm thâu nhìn sao
Nghe tiếng chim đang gọi đàn

Còn lại con đường
Trăm năm giữa nhân gian
Còn bình minh
Còn hoàng hôn
Còn môi hẹn ước
Mong manh đêm giấc ngủ
Người vào mộng quên mất lối về

Những giòng sông
Là những giấc mơ trần gian
Yêu thương
Nhớ nhung
Trống vắng

Thiên đàng nào
Ngày bước qua đỉnh trời cao
Vị đắng đầy trong mật ngọt
Xót xa trong những cung đàn

Êm như giòng sông
Tình sử thuyền trôi nhẹ nhàng
Mông lung chiều nay
Hình bóng chợt về miên man

Sao phương trời xa
Nghe chăng lời nhắn gọi ước mơ
Tơ vương còn đây
Còn đợi nhau giữa đời này

Cát Biển
18-Jan-2010

Albert Einstein, Thiên Tài Của Mọi Thiên Tài

0 comments

Albert Einstein, Thiên Tài Của Mọi Thiên Tài
(NHỮNG NHÂN VẬT LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI)

Albert Einstein, nhân tài lỗi lạc nhất thế kỹ 20 của loài người tuy chỉ hiện diện trên quả đất vỏn vẹn có 76 năm ngắn ngủi nhưng những đóng góp vô song của ông vào kho tàng kiến thức của nhân loại đã nâng đẫy loài người đến những cao độ mới, những quỹ đạo mới, của các đẵng cấp tinh khôn.

Ông đã hiến tặng cho loài người một đôi hia vạn dặm. Nhờ vào Thuyết Tương Đối của Einstein - tức là thuyết Relativity - những nhà bác học sau này như William Shockley đã chế tạo được chiếc transistor, cơ phận căn bản mà đã đưa loài người vào kỹ nguyên điện tử của television, phi thuyền, computer, viễn thông, vv... nơi mà sự kỳ diệu của trí tuệ con người không ngừng nghỉ, khám phá ra những nguồn năng lượng mới, những phát minh mới.

Những vùng chân trời mới đầy những kinh ngạc và kỳ thú này không khác gì những chuyến phiêu lưu của nhân vật huyền thoại Sinh Bá từ các truyện thần thoại Đông Phương, được loài người khám phá không phải từ nơi những hành tinh bí ẩn xa xôi khác mà lại từ vũ trụ vẫn hằng xoay vần và hiện hửu tự khỡi thuỷ của chúng ta.

Albert Einstein được sanh ra tại Đức năm 1879 trong một gia đình gốc Do Thái, lúc mà toàn thể nền khoa học của nhân loại đều lệ thuộc vào các nguyên lý then chốt về không gian, thời gian, và chuyễn động của lý thuyết cơ bản Newton, với những hệ thống vật lý tưỡng như là đã được hoàn chỉnh, sung mãn và mạch lạc. Chỉ vì sự hiện diện của Einstein trên quả đất, các lý thuyết Newton căn bản đó của loài người một sớm một chiều đã bị lỗi thời, dành chổ cho ngành Tân Vật Lý.

Năm 1905, với số tuổi xuân sanh 26 đầy tự tin và trí thông minh đĩnh ngộ, chàng trai trẻ Einstein đã tiên phong dẫn đầu trước mọi nhà thông thái khác cùng thời bằng một loạt những tập khảo cứu mới lạ, uyên thâm cùng với những tiên đoán táo bạo về luật chuyển động của vũ trụ. Mãi cho đến năm 1919 nhân hiện tượng Nguyệt Thực (eclipse) tại Anh, các khoa học gia đã khảo nghiệm và xác minh được là các tia sáng từ các hành tinh xa khi tiến gần mặt trời đã bị cong lệch do sức hút từ mặt trời, thì các nhà bác học lúc ấy mới có thể chứng nghiệm được Thuyết Tương Đối mà Einstein đã quyết đoán trước đó hằng mấy năm. Trí khôn của loài người lúc ấy mới bắt kịp phần nào với khã năng tư duy và mặc khải của Einstein, và ông đã nghiễm nhiên trỡ thành một thiên tài của mọi thiên tài, bậc thầy của mọi vị thầy.

Năm 1905 còn được mệnh danh là Năm Nhiệm Mầu vì một loạt những đóng góp liên tục cực kỳ mới lạ kỳ diệu của Einstein, từ cách định lượng các nguyên tử nhỏ li ti, cách đo năng lượng E=mc2 là một phương trình vật lý nỗi tiếng nhất, đến Thuyết Tương Đối của ông mà tầm ảnh hưỡng bao trùm lên mọi kẻ hỡ của vật chất, không gian, thời gian và năng lượng, mọi bước tiến của vật lý, từ các vật chất nhỏ bé li ti nhất là các nguyên tử, đến các cấu trúc vĩ đại nhất là Thái Dương Hệ và luôn cả vũ trụ.

11 năm sau đó, tức là năm 1916, với số tuổi 37 trưỡng thành và dồi dào kinh nghiệm, ông ấn hành tập khảo cứu thứ nhì, siêu đẳng hơn, uyên thâm hơn, với tựa đề Lý Thuyết Tương Đối Tổng Hợp (tức General Theory of Relativity) làm cho các nhà bác học đương thời càng ngạc nhiên trong thích thú. Thuyết của ông thiết lập chặt chẻ hệ thống Tân Vật Lý, khải minh cho một kỹ nguyên mới là ngành Nguyên Tử Năng. Ngành nguyên tử năng chuyên về các đơn vị vật chất nhỏ bé nhất, nhưng vận chuyễn với tốc độ cực kỳ cao nhanh, nên cũng ngầm chứa một năng lực kinh khũng vô song. Chính năng lực này đã được Hoa Kỳ dùng để tạo bom nguyên tử mà đã tàn phá 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bổn thành bình địa chỉ trong một chớp mắt, và dứt điểm Đệ Nhị Thế Chiến.

Và từ đó, loài người không hề quay đầu lại nữa. Con người từ đó tiến nhanh như mang một đôi hia ngàn dặm. Không ai hướng về thiên niên kỹ 2000 mới này còn có thể tưỡng tượng hoặc suy đoán đâu sẽ là giới hạn cuối cùng của trí khôn của loài người. Einstein vì vậy đã nghiễm nhiên ngự trị địa vị tuyệt đĩnh, ngang hàng với một số hiếm hoi các bậc thông thái, các nhà bác học không tiền khoáng hậu của lịch sử nhân loại như Aristotle, Copernicus, Galileo, Newton, mà đã luân phiên lèo lái những khúc quanh mới then chốt trong tiến trình sinh hoá của lịch sử nhân loại. Điều đáng nói chăng, chàng trai Albert Einstein siêu việt đó năm ấy chỉ mới tròn 37 tuổi.

Kiến thức dị thường của Einstein được trao dồi khi ông theo đuổi các công trình nghiên cứu tại học viện Bách Nghệ Liên Bang tại thành phố Zurich của Thuỵ Sĩ. Ông tốt nghiệp Tiến Sĩ năm 1905. Vì không kiếm được một chân giáo sư, ông bèn nhận việc làm Định Lượng Viên cho cơ quan cấp Bằng Phát Minh tại thành phố Berne của Thuỵ Sĩ. Không ngờ đấy cũng chính là môi trường kích thích cho những tư tưởng táo bạo và mới lạ. Sau giờ làm việc chàng trai trẽ Einstein lại say mê miệt mài nghiên cứu về những chuỗi hệ thống phức tạp của các sự chuyển động, cùng với ngành quang học mới lạ và trừu tượng, để rồi hình thành nên tập khảo cứu thứ nhất, quyễn Lý Thuyết Tương Đối Hạn Chế vào năm 1905 mà đã làm ngạc nhiên và chấn động thế giới.

Ông được trao tặng giải Nobel cao quý nhất vào năm 1921. Ông được mời thăm viếng và diễn thuyết tại nhiều viện đại học nỗi tiếng khắp nơi trên thế giới. Các học viện lỗi lạc đều mời ông về dạy. Năm 1932, ông đi đến một quyết định quan trọng. Ông quyết định chấp nhận quốc tịch Hoa Kỳ, và nhận lời làm giảng sư tại đại học Princeton, thuộc tiểu bang New Jersey. Năm 1952, quốc hội của tân quốc gia Do Thái mời Einstein về đãm nhiệm chức vụ Tổng Thống đầu tiên khi nước này mới được tái lập tại vùng Trung Đông, vì ông cũng là người gốc Do Thái. Tuy nhiên ông không thiết tha về chính trị, và đã khước từ.

Ngành vật lý nguyên tử đã cho chúng ta vô số những ứng dụng về điện tử gồm cả vô tuyến điện, radar, television, computer, và đáng kể nhất là nguyên tử năng. Điều đáng ghi nhận là, những phát minh mới của loài người, một khi áp dụng vào đời sống vật lý hằng ngày cũng biến thành nguyên tố khơi mào cho những suy tư về triết lý, tức là những liên hệ giữa con người và vũ trụ. Nếu chúng ta có thể định nghỉa ngành vật lý nguyên tử là đã tạo ra những năng lực cực kỳ to lớn từ những đơn vị vật chất li ti nhỏ bé nhất mà loài người có thể tìm thấy được, tương tự như những viên gạch nhỏ bé của một toà dinh thự đồ sộ, thì ta phải đồng ý là người có công khám phá ra nó đã có khả năng suy tư khác thường. Einstein là nhân vật lỗi lạc có khã năng siêu việt đó.

Ông nhận thức được căn cơ của sự vật một cách bình dị từ những điều mà người phàm tục lại cho là kỳ quặc. Thuyết Tương Đối của Einstein liên hệ đến sự chuyển động của nguyên tử, tức là những đơn vị vật chất cơ bản nhất, nhỏ bé nhất, nhưng lại hàm chứa một vũ trụ quan rộng rãi nhất. Trong khi thuyết Cơ Học của Newton đòi hỏi phải có các điều kiện tiên khởi và tuyệt đối để có thể giải thích được các chuyển động kế tiếp, thì Thuyết Tương Đối của Einstein có thể áp dụng cho mọi trường hợp mà không cần đến một điều kiện tiên khởi, một cái mốc thời gian hay một điều kiện khởi thuỷ nào của thời gian và không gian cả.

Vũ trụ, như vậy là một chuỗi dài sinh hoá vô thuỷ vô chung, xoay vần, chuyển đỗi. Loài người sau đó đã khám phá ra rằng họ chỉ có thể tìm hiểu được phần nào những bí hiễm của thiên nhiên mà không bao giờ có thể đủ khôn ngoan để khống chế được vũ trụ...Những chuyến phiêu lưu của Sinh Bá do đó sẽ mãi mãi vẫn là những chuyến mạo hiễm đầy những kỳ thú, vì khã năng tư duy của loài người sẽ có khả năng sinh động, vượt xa mọi biên giới.

Cát Biển

Relativity

What is space? What is time? To answer these questions, Albert Einstein developed the theory of relativity. Einstein demonstrated that space and time are curved, and that this curving is what we ordinarily call gravity.

Einstein explained that this is because everything (and everyone) is constantly in motion through both space and time, and therefore has its own unique frame of reference. This has some pretty bizarre implications. For instance, two people who are moving relative to each other, wearing identical watches, will measure time differently. Time will slow down or speed up depending on how fast each is moving. This usually isn't noticeable because your average wristwatch isn't sensitive enough to measure the tiny discrepancies that appear at slower speeds. Time dilation only becomes significant at speeds approaching the speed of light, when the effects are greatly magnified.

Einstein also asserted that space and time are one. Our three-dimensional existence -- the "where" of an event -- evolves along the fourth dimension of time -- the "when" of an event -- so we live in a four-dimensional space time. Ergo, what happens to time must also happen to space. So as time dilates for an object in motion, the object's length contracts along its horizontal axis by a corresponding amount.

Saturday, January 16, 2010

Mẹ Yêu Thương

0 comments

Mẹ Yêu Thương

Ngày xưa mẹ về
Con ra ôm mẹ
Mẹ cho trái ổi
Mẹ cho củ khoai

Chiều chiều mong mẹ
Để nghe tiếng chân
Nghe tên mẹ gọi
Nghe hạnh phúc gần

Rồi con rời mẹ
Vào học trường xa
Phương người cô lẻ
Chạnh nhớ mái nhà

Có hôm mẹ gửi
Nồi cá nục kho
Kèm thêm lá thư
Lệ thương từng chữ

Tủi hờn ly biệt
Tháng tư vĩnh quyết
Cùng mẹ lênh đênh
Theo dòng định mệnh

Xứ người xa lạ
Học nói tiếng Anh
Mẹ cứ đi lạc
Ốc đảo vây quanh

Hai lần đột quỵ
Mẹ đuối biển đời
Một hôm sầu thảm
Mẹ bỏ con đi

Ơn sâu nghỉa nặng
Từ buổi sơ sanh
Đất trời hoang vắng
Ngày lá lìa cành

Xưa bước chân mẹ
Mang quà tuổi thơ
Chiều bên nắng nhẹ
Hồn trẻ ngóng chờ

Ngày nào nghe lại
Tiếng chim gọi đàn
Ngày nào con mẹ
Ấm vòng tay đan

Một chốn bình yên
Quẳng gánh ưu phiền
Thành tâm con nguyện
Mẹ bước an nhiên

Cát Biển
22-Dec-2009

Lời Của Dấu Yêu

0 comments

Lời Của Dấu Yêu

Ngày nào chợt giọng nói em
Vừa ghé rất sâu tim ta
Chợt thấy niềm vui ứa tràn
Chợt thấy lệ nào đã tan

Huyền diệu như giòng sông chứa chan
cho ta khát khao cuộc sống
Như bóng đêm vào ánh sáng
Như bóng tối tìm lối thiên đàng

Ngày nào bình minh thắp đầy
Ta chợt thấy vơi đi ưu phiền
Tâm hồn bỗng nhẹ nhàng bình yên
Ta còn biết yêu thương triền miên

Chợt thấy lòng mình ứa dâng
Vì bên em có mây dịu dàng
Vì nơi em nụ cười tươi sáng
Vì yêu em ta biết yêu nhân gian

Ngày nào chợt đôi mắt em
Vừa đến dấu yêu nhắn trao
Cho ta màu sắc ấm nồng
Cho ta bao điều ước mong

Nguyện cầu mãi từ trong bóng đêm
Từng sớm từng sớm mai
Từng đóm sao từng ánh trăng
Cho ta bước qua vô thường

Và dẫu có là một phút giây
Và dẫu chỉ là thoáng mây
Thì em là vĩnh viễn
trái tim này

Cát Biển
12-05-2009

Đợi Người

0 comments

Đợi Người

Người đi môi đọng lời thề
Mưa trong chữ viết giọt tê tái hồn
Ngoài kia tuyết xuống hoàng hôn
Trong ta sương khói vây hồn đắng cay

Nguyện lời tay nhé cùng tay
Đón mưa che nắng ôm đầy ước mơ
Vầng trăng non dại ngây thơ
Hôm nay đầy đặn một bờ nhớ nhung

Vàng xưa nhắn với ai cùng
Nhạt nhòa quá khứ nghìn trùng tương lai
Thắp lên ánh nến đêm dài
Cho ta hiện tại sánh vai bước đầy

Ngọc lan tinh khiết thơ ngây
Hương trao ngà ngọc những ngày hồn nhiên
Chờ người yêu dấu bên hiên
Nghe như sân trước mẹ hiền bước chân

Người ơi người của hóa thân
Ta nghe nhẹ cả gót trần viễn du
Vô thường lá của mùa thu
Đục trong xin hẹn thiên thu cõi người


Cát Biển
1-Jan-2010


A-Nan, Vị Thị Giả Tận Tụy Của Đức Phật

1 comments

A-Nan, Vị Thị Giả Tận Tụy Của Đức Phật

Thích Tâm Hải

Tôn giả A Nan (Ananda) là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, người được mệnh danh là rất uyên thâm trong nhiều lĩnh vực và có trí nhớ siêu phàm (đa văn đệ nhất). Với những đức tính đặc biệt, tôn giả A Nan được đại chúng thời bấy giờ đề cử làm thị giả cho đức Phật và được đức Phật hoan hỷ chấp thuận. Tôn giả A Nan đã luôn theo sát đức Thế Tôn trong suốt hơn 25 năm cuối, luôn tận tụy trong việc chăm sóc đức Phật; ghi nhớ tất cả những gì mà đức Phật dạy bảo; luôn đem đến niềm an lạc cho mọi người, như chính ý nghĩa của tên Ngài -- Ananda: an lành và hạnh phúc.

A Nan sinh trưởng trong một gia đình truyền thống Kshatriya (chiến sĩ giai cấp nắm quyền hành thống trị đất nước Ấn Ðộ thời bấy giờ), con của vua Amitodana. Vua Amitodana là em ruột của vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương - phụ thân của đức Phật). Trong quan hệ dòng họ, A Nan là em chú bác ruột với đức Phật. Ngày đức Phật trở về Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) để thăm vua cha và thân quyến lần đầu tiên sau khi thành đạo, trong số vương tôn công tử ra nghinh đón Ngài có chàng trai trẻ thuộc dòng họ vua chúa -- Ananda, lập tức A Nan bị thu hút bởi cốt cách uy nghi và thanh cao của đức Phật. Sau đó, A Nan cùng với sáu vương tử khác đã đến xin đức Phật cho phép được gia nhập Tăng đoàn, đi theo con đường mà đức Thế Tôn đang đi.

Với trí thông minh có sẵn, sau khi trở thành một tu sĩ, Tôn giả A Nan đã tiếp thu giáo lý của đức Phật trọn vẹn như nước thấm vào cát. Nhân một hôm nghe Trưởng lão Punna thuyết pháp, Ngài chứng đắc được quả thánh Dự Lưu (Sotàpatti - Tu đà hoàn) -- cấp độ đầu tiên trong 4 cấp độ giải thoát (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).

Khi được đề cử làm thị giả của đức Phật, để tránh những dư luận không tốt có thể xảy ra, Tôn giả A Nan đã đệ trình lên tám điều kiện và được đức Thế Tôn chấp nhận:
1. Không mặc áo mà đức Phật cho, dù mới hay cũ;
2. Không dùng thực phẩm mà thiện tín dâng cúng đến đức Phật, dù đó là thức ăn thừa;
3. Không ở chung tịnh thất với đức Phật;
4. Không đi theo Phật đến bất luận nơi nào mà thiện tín chỉ cung thỉnh Phật;
5. Ðức Phật hoan hỷ cùng đi với Tôn giả đến nơi mà Tôn giả được mời;
6. Ðược quyền sắp xếp, tiến cử những vị khách đến muốn gặp đức Phật;
7. Ðược phép hỏi đức Phật mỗi khi có hoài nghi phát sinh;
8. Ðức Phật hoan hỷ nói lại những bài pháp mà Ngài đã giảng khi không có mặt Tôn giả.

Và kể từ khi trở thành một thị giả trong suốt hơn hai mươi lăm năm, Tôn giả A Nan đã tận tụy, trung tín, cần mẫn với lòng kính mộ không hề suy suyển việc chăm sóc đức Thế Tôn, đặc biệt là trong những lúc thân thể đức Phật có bệnh và những năm đức Phật cao tuổi mà bước chân không ngừng du hóa bốn phương.

Là một thị giả của đức Phật và là một người uyên bác, có trí nhớ siêu phàm, ngoại hình khôi ngô tuấn tú, được rất nhiều người, đặc biệt là phái nữ ái mộ, song Tôn giả A Nam đã không lấy điều đó làm kiêu hãnh, Ngài luôn khiêm cung, sống phạm hạnh và tận tụy với đức Phật trong vai trò của một thị giả. Câu chuyện cô gái Pakati của dòng họ Matànga (Ma Ðăng Già) và nhiều chi tiết sinh động được ghi lại trong kinh điển đã nói lên điều đó.

Tuy là một người rất mực thông minh, nhạy cảm và có một trí nhớ chính xác, mạnh lạc như thế, nhưng tôn giả A Nan chưa phải là một vị A la hán -- bậc đã hoàn toàn giải thoát, nên khi nghe đức Phật cho biết chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ nhập diệt, Tôn giả buồn đau vô cùng. Ký ức về những ngày tháng theo sát bên đức Phật, những hành động, cử chỉ đầy tình thương yêu vô biên và những lời dạy đầy trí tuệ của Ngài cứ tuôn chảy về trong Tôn giả. Nghĩ về một mai đây sẽ không còn Phật nữa, Tôn giả A Nan đã ra ngoài và bật khóc thành tiếng. Ðức Phật nhận biết điều này, Ngài gọi A Nan lại và ân cần, bảo:
"Không nên than khóc, này Ananda, không nên phiền muộn; Như Lai đã từng dạy rằng mọi kết hợp đều phải chấm dứt bằng sự biệt ly. Hiện hữu là vô thường, luôn biến dịch. Ðã từ lâu, con đã tận tình hầu cận Như Lai với tâm quý mến kỉnh mộ, con hãy nỗ lực tu tập để thành tựu quả vị A la hán - quả Thánh tối thượng" (Anguttara Nikàya - Tăng Chi).
Ba tháng sau khi đức Phật nhập diệt, vào đêm trước Ðại hội kết tập kinh điển lần thứ I gồm 500 vị A la hán do Tôn giả trưởng lão Ðại Ca Diếp (Maha Kasyapa) chủ tọa, với nỗ lực thiền quán vượt bực, Tôn giả đã chứng đắc A la hán và được tham dự Ðại hội, phụ trách trùng tuyên kinh tạng. Mở đầu của mỗi kinh, Tôn giả A Nan đã lặp lại lời "Như vậy tôi nghe..." (Như thị ngã văn), mà mỗi khi tiếp xúc với kinh điển, chúng ta đều gặp.

Theo truyền thuyết, Tôn giả A Nan sống đến một trăm hai mươi tuổi. Tôn giả A Nan là một vị để tử lớn đồng thời là một thị giả rất tận tụy với đức Phật. Ngài được đức Phật ngợi khen là người có học thức uyên thâm; có trí nhớ trung thực và bền lâu; tác phong cao quý và trí tuện nhạy bén; ý chí kiên định và là người luôn chuyên chú, cần mẫn đối với công việc cũng như đời sống tu tập (Anguttara Nikàya - Tăng Chi). Hình ảnh Tôn giả A Nan là một hình ảnh thật đẹp và là một tấm gương sáng để cho mỗi người con Phật noi theo.

Thích Tâm Hải
1998

Monday, December 28, 2009

Phương Nào Gặp Lại Nhau

0 comments

Phương Nào Gặp Lại Nhau

Phương ấy là đâu
Người mang hồn tôi đi biền biệt
Xa lạ mùa trăng
Nguyện cầu ngày tháng bình yên

Về với lặng im ta
Dư âm tiếng người trong tâm khảm
Vòng thời gian chậm lại
Chờ mong khoảnh khắc của đêm ngày

Mây vẫn còn trôi
Lặng hỏi phương nào cho mây nghỉ
Xin chớ rời nhau
Đêm trường còn quạnh quẻ cô miên

Còn bờ cỏ non êm
Tìm nhau nơi đỉnh mơ ngày cũ
Người đừng quên ước hẹn
Dẫu ngàn năm hay vô lượng tương lai

Như biển thì thầm
Xin đời đáp lời van của sóng
Người hãy về đây
Đan dấu chân nồng ấm bên nhau

Đêm ngắm nhìn sao
Đếm bao vòng quay nhân thế
Mình đã hẹn nhau
Nơi này hay một cõi rất xa


Cát Biển
26-Dec-2009

Visitors Count

SEO Services

About Me

My email: sn68pbc@yahoo.com -- My Homepage: www.catbien.com