Thursday, March 26, 2009

Ba Mươi Năm - Giọt Lệ Và Niềm Tin

1 comments

Ba Mươi Năm - Giọt Lệ Và Niềm Tin

Cát Biển

Khi người ta nhập vào dòng chánh, có phải chăng bản sắc dân tộc càng lúc càng bị nhạt nhoà? Hơn ba mươi năm sống trên nước Mỹ, tiếng Anh vẫn luôn là yếu tố then chốt để người Việt thăng tiến trong nghề nghiệp. Đi làm ở các công tư sở, người kém tiếng Anh sẽ không vượt xa các đồng nghiệp. Vì vậy, dầu mang nỗi bùi ngùi nào đó khi thấy các con em mình mau mắn đối đáp bằng tiếng Anh thay vì tiếng Việt, chúng ta cần có sự thông cảm này. Nhìn lại, các quốc gia Đông Nam Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan...đều trọng dụng tiếng Anh. Các quốc gia này hầu hết đều có vài nhật báo Anh Ngữ phát hành trong xã hội của họ. Phi Luật Tân có mấy chục thổ ngữ, lại dùng tiếng Anh là chính. Ấn Độ cũng coi Anh Ngữ là ngôn ngữ hàng đầu trong giao dịch. Các người Âu Châu phần nhiều đều nói thông thạo Anh ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ. Như vậy Anh ngữ trong thiên niên kỷ này có giá trị vượt lên khỏi tự ái và tự tôn của một dân tộc. Tiếng Anh là chìa khoá bước vào kho tàng văn hoá thế giới, và là điều kiện tiên quyết của giao thương kinh tế trong bối cảnh hoàn cầu hoá của chúng ta.

Tuy nhiên chúng ta không thể nào bỏ rơi tiếng Việt. Vì đó mới chính là tiềm lực, là sức mạnh âm ỉ mà mạnh mẽ nhất, nói lên sự thành công của người Mỹ gốc Việt. Giới trẻ Việt nay thành công trên nước Mỹ không ít thì đều nhiều dựa vào sức mạnh tiềm ẩn đó của bản sắc người Mỹ gốc Việt. Một ngày nào đó thử hỏi, nếu mất đi thành phố mang tên “Little Saigon”, chúng ta còn gì lấy làm hãnh diện sự thành công vượt bực của người Việt trên nước Mỹ, mà mới ngày nào chân ướt chân ráo xếp hàng đưa tay lãnh cơm tại trại tị nạn Orote Point ở Guam, năm 1975?

Dầu có những điểm khen chê, chính văn hoá Việt đã xây dựng nên một xã hội Việt trong nước Mỹ. Công lao đó phần lớn là nhờ vào tiếng Việt. Nếu hiểu điểm này thì chúng ta mới có thể sống vững mạnh trong xã hội đa nguyên của Hoa Kỳ. Giống như một người có yêu thực sự thì mới được đáp lại bằng một tình yêu đúng nghĩa.

Có người từng nói “phải cần cả một ngôi làng để hun đúc, đào tạo nên một con người.” Những ngày thơ ấu chúng ta cần bầu sữa mẹ và tiếng ru vành nôi để mình thương yêu nòi giống. Gia đình, để làm nền tảng đùm bọc. Khi lớn lên, cần tình bạn để thêm tự tin và trao dồi năng khiếu. Ra đời, chính các người chung quanh cho chúng ta những gương cao đẹp để vươn lên, và tự tìm lấy ý nghĩa kiếp người.

Thời tuổi nhỏ, trong đám học trò vỡ lòng có 1 tên bạn bé tí bằng tuổi tôi mà tôi rất thích. Giờ đây kể chuyện tôi vẫn còn nhớ rõ dáng vóc nhỏ nhắn đó của Cường, tên đầy đủ là Đinh Quốc Cường. Chúng tôi cùng học chung trường thầy giáo Thẹo. Thầy tên là thầy Nhiều, nhưng có 1 vết thẹo mé trên mí mắt do hồi đi kháng chiến nên ai cũng kêu là thầy giáo Thẹo. Trong lớp, chúng tôi ngồi gần nhau, tôi hay chỉ Cường làm toán. Cường lúc nào đi học cũng ăn mặc sạch sẽ, tươm tất, thơm tho. Chúng tôi hay mua đồ ăn và ngồi chia nhau ăn lúc ra chơi. Có hôm tôi thiếu cục gôm, Cường vui vẻ cho tôi cục gôm. Có lần tôi cho Cường cây bút mà tôi thích nhất. Quyển tập vỡ thời ấu thơ đó có in hàng chữ “Ngày Nay Học Tập, Ngày Mai Giúp Đời” ở hình bìa mà tôi vẫn nhớ mãi nằm lòng. Bây giờ vẫn còn nhớ rõ. Ngày gia đình tôi dời nhà sang ấp Đức Nghỉa, đi học trường khác tôi cứ nhớ mãi cậu bé Cường bạn tí hon cùng lớp đã cho tôi nhiều niềm vui của tình bạn. Đã bao nhiêu năm rồi nhỉ. Cường đã cho tôi một tình bạn thơ ấu đáng yêu và những nhận thức đầu đời về tính hi sinh. Người em của Cường là Đinh Quốc Tuấn sau này trở thành cây vợt tennis trẻ vô địch của Việt Nam. Tuấn chết lúc vượt biên.

Những năm trung học đầu tiên tôi có một người bạn thân khác tên là Đức. Chúng tôi thân nhau cả khi đi học lẫn sau giờ học. Anh ta lớn hơn tôi 2 tuổi, đánh đàn rất giỏi. Một hôm nọ, nghe anh hát “Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm..” tôi bắt đầu suy nghĩ và ngạc nhiên về điều mà người lớn gọi là tinh yêu. Vài năm sau Đức phải nghỉ học vì gia cảnh túng thiếu.

Những ngày lớn khôn ở tuổi vào đời, tôi và mấy tên bạn thân cùng vui đùa, tinh nghịch, đùa giỡn, trêu chọc, tâm sự, thậm chí đấu nhau về triết lý. Tuổi mới lớn đó có cả những cãi cọ, đụng chạm, và uýnh lộn với nhóm khác. Nhưng nếu tuổi ấu thơ thật êm đềm như mực nước sông Mường Giang bình dị, thì tuổi mới lớn của tôi nhiều biến động ồ ạt như các cơn sóng dữ của Thái Bình Dương. Một ngày nọ tôi ngồi thừ người hoang mang khi biết rằng, ai đó rồi cũng phải chết. Điều đó làm tôi lặng người phân vân cả 1 buổi chiều. Thật là một sự thật đầy kinh ngạc. Giờ đây ngẫm lại, đám bạn xưa gồm Diệu Lý, Cu Tân, Bá Long, Hoàng Đen, Quang, Hùng, Dũng Lọ, Nam Bò, Thân, Tịnh v.v…giờ chỉ còn sống vài người. Dũng Lọ đẹp trai, Hoàng, và Nam Bò vui tính bị mất tích. Thân và Tịnh chết vì pháo kích. Tân chết vì viêm gan. Bá Long, người hài hước có duyên nhất, sau này đi lính và tử trận. Hơn một nữa đã về với cát bụi. Có một khoảng cách giữa mình và quá khứ. Việt Nam và Mỹ. Một hụt hẫng phân chia hai bờ cuộc sống.

Qua đến Mỹ, những bạn thân xưa đều lạc loài tứ tán. Những năm đầu còn nhớ và thương bạn. Sau đó quây quần với những xô bồ thực tế. Có khi mình còn quên cả chính mình, chỉ biết lủi theo dòng đời, giống như xe chạy nhập dòng trên xa lộ. Bạn bè như tinh tú, tuy không có mặt bên nhau nhưng hiện hữu để mình nhìn lên đó và tìm nhớ lại một phần của chính mình.

Ngày ra khỏi trại tị nạn Indiantown Gap về định cư tại thành phố Wilkes-Barre các người Việt tị nạn được học lớp ESL. Qua cô giáo trẻ tuổi Janet, tôi học một cách thích thú những từ ngữ mang ý nghĩa rất đẹp của tiếng Anh. Đại khái với các chữ rất thông dụng trong đời sống Mỹ như sau:

Blessing: Ân phúc, sự may mắn được ban cho
Lullaby: Bài hát ru con
Sophisticated: Tinh vi, sành điệu, sâu sắc
Renaissance: Thời kỳ phục hưng, đặt giá trị nơi mẫu người vẹn toàn, uyên bác
Cute: Xinh, có duyên, dễ thương
Cozy: Ấm cúng, thoải mái, dễ chịu
Passion: Niềm say mê, cảm xúc đam mê mạnh mẽ
Eternity: Sự vĩnh cửu, tính bất diệt, bất tử
Fantastic: tuyệt vời, lạ thường, trứ danh
Destiny: Định mệnh, số phận
Freedom: Tự do
Liberty: Quyền tự do bình đẳng, sự công bằng trong xã hội
Tranquility: Sự thanh bình, thanh tịnh, yên tĩnh
Blossom: Thăng hoa; nở hoa
Sweetheart: Người yêu dấu, người mình thương yêu
Gorgeous: Tuyệt đẹp, lộng lẫy, tráng lệ, huy hoàng, mỹ lệ
Cherish: yêu thương trân quý
Enthusiasm: Sự hăng say, nhiệt tình
Grace: Vẻ thanh lịch, duyên dáng, yêu kiều, phong nhã
Rainbow: Cầu vồng
Twinkle: Ánh sáng lấp lánh
Serenpidity: Sự trang nghiêm cao cả, bình an trong tỉnh lặng

Khi tôi được nhập học trường đại học Wilkes, ngoài lớp Anh văn ESL đặc biệt của trường dành cho các sinh viên ngoại quốc, tôi đều có thêm một hoặc hai sinh viên Mỹ dạy kèm Anh ngữ trong các giờ học riêng. Các sinh viên Mỹ dạy kèm này rất lịch sự, thông cảm và kiên nhẫn nên cũng giúp tôi vượt qua những khó khăn. Một sinh viên này là Diane Polachek, cây vợt tennis vô địch nữ của trường. Những ngày đầu rất thẹn thùng vì mình cứ phát âm sai, nhưng sau đó tôi mạnh dạn lập lại các chỗ sai và ráng đánh lưỡi cho đúng cách phát âm. Nhìn lại, không một kết quả nào mà không đòi hỏi sự kiên trì.

Sang Mỹ năm 1975 cái gì cũng không biết, mình phải dò dẫm tự học hỏi. Những ngày lam lũ chật vật với cuộc sống mới ở Mỹ, đời sống sinh viên quá bận rộn và đầy rẫy áp lực. Gánh vác một học trình khá nặng, mỗi khoảnh khắc của giờ giấc đều quý như vàng. Tiền không có dư dả chút nào, thèm mua cây kem $1 cũng phải suy nghĩ kỷ. Cuối tuần đi qua con phố chính Main Street ở Wilkes-Barre, chỉ mua được lát bánh pizza $1.29 là quý lắm. Có lần tôi mời bà thầy dạy văn chương, Dr. Charlotte Lord, đi ăn cho vui. Mình chỉ kêu được dĩa steamed clams giá $3.50. Bà vẫn vui tươi cười nói. Sau đó lại còn mời tôi ghé qua nhà bà ăn trả lể.

Dr. Lord là người đàn bà thông cảm, và bà quý tôi. Phải nói là bà quý tính phấn đấu của một sinh viên gốc Việt cố vươn lên từ khó khăn của nghịch cảnh. Những bài viết môn văn chương của tôi đầy những nét viết màu đỏ của bà phê và sửa lại lời văn cho đúng văn phạm. Có lẽ bà bỏ nhiều thì giờ cho các bài viết của tôi hơn các người khác trong lớp. Vì sợ sẽ bị rớt môn Anh văn năm đó, tôi cố viết nhiều, kể lại kinh nghiệm bản thân và ý nghĩa cao quý của hai chữ tự do đối với người Việt mà người khác có thể coi thường. Các hàng chữ sửa sai màu đỏ của bà giáo sư Lord càng lúc càng vơi đi, thay bằng những lời khuyến khích và hài lòng. Môn English 101 cuối cùng tôi cũng vượt qua với điểm B. Hãnh diện, nhưng không mãn nguyện. Vì tôi nhất quyết lấy con A. Giáo sư Lord đã qua đời khoảng 8 năm sau khi tôi rời trường. Bà rất xinh đẹp khi còn trẻ, có mấy mối tình, nhưng không hề lập gia đình. Bà mất năm 72 tuổi.

Nhưng nếu không nhờ những hàng chữ màu đỏ chi chít kia, làm sao tôi có thể trao dồi, dù là rất khổ sở hằng đêm vào dạo đó. Chính những hàng chữ đỏ đó đã giúp uốn nắn tôi thành một công dân Mỹ gốc Việt.

Phải nói cho rõ, tôi đã viết các bài luận văn đó một cách gián tiếp. Tôi đã đến với Anh ngữ qua Việt ngữ. Và cũng nhờ đó mà được sự thông cảm và quý mến của người thầy, Dr. Lord. Nhờ tiếng Việt, tôi đã có cơ hội thổ lộ tâm tình một người Việt tị nạn trong các bài luận văn, trước khi cố gắng dịch chúng sang Anh ngữ. Điều này giống như những lá thư ngày xưa với tuồng chữ mộc mạc của mẹ tôi thương mến viết cho tôi khi tôi xa nhà vào Saigon trọ học. Lời mẹ tôi trong những lá thơ yêu dấu với hàng chữ nghệch ngoạc kém văn hoa nhưng chứa đầy sự khôn ngoan qua năm tháng kèm một tình mẫu tử bao la, đã luôn làm tôi nhoà mắt khóc vì thương nhớ mẹ. Các bài luận Anh ngữ của thời đó tuy kém cỏi về giá trị văn phạm, nhưng mang những tâm sự đầy trắc ẩn của lớp người tị nạn mới trên nước Mỹ. Ba mươi năm nhìn lại, chính văn hoá Việt tiềm ẩn trong những hàng chữ tiếng Anh kia đã đánh thức lòng yêu quý của vị thầy người Mỹ. Qua hình ảnh tôi, Dr. Lord đã thấy lại sự phấn đấu của các lớp người tị nạn Ý, Trung Hoa, Mễ, Ái Nhỉ Lan, Anh v.v...đã chung sức tạo nên một nước Mỹ hiện tại. Nước Mỹ đa nguyên, với dân số không đầy 6% nhân loại, đã có những phát mình và thành quả kinh tế, quân sự, giáo dục, pháp luật, văn hoá mạnh hơn 60% các diễn biến trên thế giới.

Nhắc đến mẹ, lòng tôi không khỏi quặn lên một niềm hối hận. Những ngày thơ ấu ở Phan Thiết, gia đình tôi không dư dả nhiều, nhưng được cha mẹ tôi đùm bọc nên chị em chúng tôi không thấy bị thiếu thốn. Sau này lớn khôn thêm, nghe ba tôi kể chuyện những ngày cơ cực khi cha tôi mới lấy mẹ tôi, rồi quá nghèo khổ không thuốc thang chửa trị nên anh cả tôi bị chết, nước mắt tôi tự nhiên chảy đầm đìa. Dạo còn nhỏ, tôi cứ xin mẹ sinh thêm cho tôi một người anh khác, để khỏi bị lũ con nít trong xóm ăn hiếp. Nhớ nhất là những lúc mẹ đi buôn bán chiều về nhà. Mẹ luôn kêu tôi cho trái ổi, trái quýt, trái cam. Khi thì được trái xoài, măng cụt. Tiếng yêu thương của mẹ tôi là như thế. Không phải bằng lời nói “yêu thương” mà là cái nhìn âu yếm trìu mến, cái vuốt đầu khi mẹ sung sướng. Vậy mà khi sang Mỹ rồi, ai cũng lo phấn đấu với cuộc sống mới. Chợt nhớ lại những lúc tôi la mẹ vì mẹ bỏ đồ giặt và đổ đầy thuốc tẩy làm hư hết quần áo, hoặc khi mẹ rang popcorn trong microwave lâu quá làm cháy khét cả nhà. Mẹ tôi đành lặng im không đáp. Trời ơi, thấy mình sao kém cỏi nhỏ mọn quá. Sao mình không biết lựa lời để mẹ khỏi đau lòng. Bây giờ cha mẹ đã khuất núi rồi, làm sao mình sánh với những tình thương và hạnh phúc cha mẹ đã từng ban cho trong quãng đời khốn khổ kia.

Trở lại chuyện Anh văn, năm học thứ nhì sau lớp Dr. Lord là kỷ niệm đáng nhớ. Lớp English 102 vào năm đại học thứ hai là do Dr. Jack Hardy dạy. Jack sấp sỉ khoảng 40 tuổi, dáng người gầy dong dỏng, đẹp trai, tóc hơi quăn, mang kính và nghệ sĩ. Ông giảng bài mạch lạc và hấp dẫn. Ông là cố vấn đặc san Manuscript của trường Wilkes, do các sinh viên chuyên về ban Văn Chương biên tập. Báo có các bài phỏng vấn, tường trình, thơ truyện, và đặc biệt là tổ chức giải thơ văn có thưởng mỗi cuối năm học. Jack khởi đầu lớp English 102 của chúng tôi với lời khen ngợi 1 bài khảo luận (research paper) của một sinh viên khoá trước, đọc cho chúng tôi nghe làm mẫu. Năm đó tôi càng đọc càng rất khâm phục nhân vật Ralph Nader, tác giả sách “Unsafe At Any Speed”, mà lại viết bài phê bình chỉ trích quyển sách ông ta trong bài khảo luận của tôi. Tôi rất thích bài viết của mình nên khi chép tay, cố gò từng câu từng chữ cho thật đẹp, thật vừa ý. Có khi phải viết lại cả trang chỉ vì dư thừa mấy chữ mình không đắc ý. Bài nộp xong là gần cuối niên học. Ngày cuối của môn English 102 ông Jack nhắc với lớp là hôm trước ông cho chúng tôi nghe 1 bài khảo luận mẫu của 1 sinh viên. Hôm nay trong lớp này, có 1 bài khảo luận còn hay hơn bài đó. Và bài đó là của tôi. Môn đó tôi sung sướng được điểm A. Ông luật sư Ralph Nader ngày nay vẫn còn hay ra ứng cử chức vụ Tổng Thống Mỹ, để tranh đấu bảo vệ quyền lợi của người tiêu thụ. Sau đó là chuyện khác đáng nhớ về môn vẽ hội hoạ, mà bà khoa trưởng, Dr. D’vorsion, khuyên tôi nên đổi qua môn hội hoạ, trong khi tôi rất thích ngành Điện (mà sinh viên Việt gọi đùa là “điên nặng”).

Tiếp theo quãng đời học Anh ngữ trong trường, là những ngày theo đuổi ngành diễn thuyết khi đi làm việc. Vì ngành kỹ sư đòi hỏi phải thuyết trình thường xuyên diễn tiến các công việc và kỹ năng mới, nên tôi rất e ngại về vốn liếng tiếng Anh kém cỏi của mình. Rồi tôi quyết định lủi vào chỗ nào mà mình sợ hãi nhất. Tỉ dụ, tôi rất “ngán” trò chơi rollercoaster trong các amusement park của Mỹ. Vì sợ nó tôi quyết định xếp hàng đi chơi nó, và tự coi như mình đã chết rồi. Nhờ vậy mà tôi không còn sợ món chơi đáng khiếp đó nữa. Tương tự, tôi gia nhập hội thuyết trình viên Toastmasters International cũng vì ngán tiếng Anh. Hội có 1 club ngay trong sở làm.

Những tưởng chỉ gia nhập 1 thời gian ngắn để học hỏi, không ngờ duyên nợ này kéo dài 14 năm. Các hội viên trong club tôi đa số là các kỹ sư Mỹ có bằng cấp cao. Trung tâm nghiên cứu Exxon Production Research thường tuyển các nhân viên có bằng Cao Học và Tiến Sĩ nhiều hơn là bằng Cử Nhân. Tôi nhớ năm đầu vào hội, đi xem kỳ thi diễn thuyết cấp District của Thành Phố Houston, thật thích thú không thể tả với các thí sinh diễn giả đại diện các Khu Vực (gồm nhiều hội) về dự thi. Từ cách chọn đề tài, phát âm, sử dụng ngôn từ, cách khôi hài, đến giọng lên xuống của họ, tôi ngồi xem và lắng nghe một cách say mê từng bài diễn thuyết, lòng ước ao có một ngày nào mình cũng sẽ là một diễn giả thí sinh như họ. Có ngờ đâu cơ hội dun rủi, bài thi của tôi năm sau đó được thắng hạng nhất trong club. Đó là bài có tựa đề “Một Chuyến Phiêu Lưu Kỳ Thú”, nói về cuộc đời của tôi là một người Việt tị nạn, với những khổ đau sau ngày mất nước và cố gắng vượt khó khăn theo học đại học, cuối cùng tốt nghiệp kỹ sư. Câu chuyện thương tâm của người tị nạn Việt Nam làm một số người Mỹ thấy lại hình ảnh phấn đấu của các người tị nạn cha ông trước kia. Bài thuyết trình đó có đoạn cuối như sau:

“Có người bạn từng nói với tôi rằng chúng ta đều là Sản Phẩm Chưa Hoàn Tất của thượng đế...mãi cho đến, có thể nói là, hai giây cuối cùng trước khi mình nhắm mắt. Các bạn hỡi, hãy cứ mơ giấc mơ của bạn, và biến nó thành sự thật. Tất cả chỉ cần sự học hỏi. Học hỏi để đạt đến ý nguyện, bất chấp mọi giới hạn. Học hỏi để biết yêu quý cuộc sống. Dù cuộc đời không hoàn hảo, nó vẫn là một thế giới đẹp. Học hỏi cách sống đạt đến tuyệt đỉnh khả năng mà bạn có, vì cuộc đời là do chính chúng ta tạo ra nó. Không kém thảo mộc và tình tú, bạn là một đứa con của vũ trụ, bạn có quyền hiện hữu. Mỗi người trong chúng ta là những cá thể đặc thù, những đứa con đặc biệt của tạo hoá. Hãy trân quý điều đó. Khai phá nó. Làm tốt nó. Biến nó thành những gì tuyệt nhất, từ những gì thiên nhiên ban cho bạn, và không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ, xem thường từng giây phút sống. Nếu bạn không làm được những điều vĩ đại, hãy cứ làm những điều tầm thường – nhưng làm những điều tầm thường đó một cách sâu sắc, vĩ đại. Cuộc đời không chỉ gồm những điều bạn đang có, mà gồm luôn cả những điều bạn Có Thể Có. Vì vậy, hãy mở rộng tầm nhìn và khai triển các ước vọng của bạn, hãy biến cuộc đời của bạn thành một chuyến phiêu lưu kỳ thú...”

Phải nói là tôi đã nói lên tính phấn đấu chung của người Mỹ gốc Việt. Tôi cũng chỉ là một người tị nạn tầm thường. Nhờ sức mạnh văn hoá tiềm ẩn của người Việt máu đỏ da vàng, tôi đã có cơ hội diễn bày tâm sự ấy, tính phấn đấu ấy như một đóng góp vào quốc gia Hoa Kỳ mà đã mở rộng vòng tay cứu giúp, từ định mệnh bất hạnh của dân tộc. Bài diễn văn đó thắng giải nhất kỳ thi trong Club, thắng luôn Khu Vực, rồi thắng cả ở District. Sau đó đại diện District đi thi Vùng (Regional) tại Austin TX, tôi theo luật thi, đổi bài diễn văn khác. Tôi được giải Ba kỳ thi Vùng. Mãi đến năm sau đó, khi dọn qua Long Beach CA, tôi mới thắng giải vô địch Vùng II (gồm California, Arizona, Nevada) và trở thành 1 trong 9 người dự thi chung kết giải vô địch thế giới về diễn thuyết.

Ngày mới qua trại Orote Point ở Guam xếp hàng đi lãnh thức ăn, lòng tôi đầy mặc cảm và thương tích với những chuyện buồn đau. Giờ đây ba mươi mấy năm nhìn lại. Là người Việt tị nạn, tôi hãnh diện với danh xưng Little Saigon trên đất Mỹ. Dầu tôi đang sống ở Nam Cali hay trôi dạt phương nào, lòng tôi vẫn mang niềm tự hào về giá trị biểu tượng của cái tên Little Saigon đầy thân yêu ấy. Nó cho tôi một đặc tính nhân bản về giá trị con người, cái gọi là personal identity. Giống như màu cờ vàng ba sọc đỏ, tên thành phố Little Saigon nói lên quá trình của một công cuộc hi sinh tranh đấu cho Tự Do của người Việt. Nó là tấm gương phấn đấu và kiên nhẫn chung của bao nhiêu người Mỹ gốc Việt. Từ con số không, những con người mất mát khổ đau ấy đã dựng lên thành phố Little Saigon ngay giữa lòng đất Mỹ, với tầm hoạt động và mãi lực đáng kể về kỹ thuật, y khoa, giáo dục, văn nghệ, luật pháp v.v...

Bài hát Hai Mươi Năm của nhạc sĩ Phan Văn Hưng vẫn còn vang vọng trong tim tôi “Hai mươi năm, đàn trẻ thơ nay đã lớn, và chàng trai nay đã già, những người xưa đã nằm xuống và rừng núi đã héo nhoà…Người còn yêu hãy còn nhớ, phải vượt qua những bến bờ..Phải tìm sâu trong hồn nước, những thoi thóp những mong chờ..Người còn tha thiết núi sông, thì sẽ thấy cơn mưa nguồn..Để lặn lội vẫn đi tìm, sẽ thấy đường dấu quê hương...” Thắm thoát đã hơn 30 năm. Tôi vẫn nhớ, nhớ rất nhiều, về tuổi ấu thơ thật đẹp của vùng dĩ vãng mà mình đã ngụp lặn trong văn hoá tiếng Việt. Tôi đang sống và nhớ các người bạn đã chết. Cuộc đời ở Hoa Kỳ như cách biệt với quá khứ cũ bằng một dòng sông vô hình nào đó. Một khoảng cách hụt hẫng mà mình phải vượt xuyên qua tâm thức thì mới đến được bến bờ kỷ niệm bên kia, giống như trong phim Back To The Future. Tôi luôn tự hứa là mình phải cố gắng phấn đấu trong dòng văn hoá Mỹ, nhưng sẽ không làm nhạt nhoà nguồn gốc Việt mà tạo hoá đã ban cho tôi.

Cát Biển




Hai Mươi Năm

Lời : Nam Dao
Nhạc : Phan Văn Hưng

Hai mươi năm
đàn trẻ thơ nay đã lớn
Và chàng trai nay đã già
Những người xưa đã nằm xuống
Và rừng núi đã héo nhòa

Hai mươi năm,
người cụt chân trên hè phố
Kẻ quyền uy trong căn nhà
Người nằm rên trong hộ xá
Là người sáng hay đã lòa

Người bỏ thây nơi trùng dương,
mộng nhổ neo trên sóng gầm !
Những hồn ma sau hàng kẽm,
những con mắt sâu trừng trừng .

Người nằm chết trên núi sông,
người đào sẵn trên ruộng đồng,
người lặn lội vẫn đi tìm,
bao con đường dấu quê hương !

Hai mươi năm,
những người đi đã về bến
Một vùng quê hương không còn
Những người điên trong ngục khám
Một đoàn quân trong khách sạn

Hai mươi năm,
nhiều kẻ gian trong làng xóm
Người hiền khô mang gông cùm
Kẻ mộng du lên bạo chúa
Người ngồi khóc trên sân chùa

Người hùng xưa nay giầu sang,
một thằng bé đứng trần truồng !
Nhìn người qua buôn và bán,
kẻ gian ác đi nghênh ngang !

Người già nua có nhớ không ?
hay đã quên những nỗi tình ?
Người đập đá trên nông trường,
trơ lưng còm cõi gió sương !

Hai mươi năm,
những nụ hoa cho người hái
Những thể xác cho ai đầy
Một thầy cô trong nhà chứa
Gặp trò xưa bỗng khóc òa

Hai mươi năm,
người còn tâm hay còn trí
Lòng sục sôi như vỡ bờ
Đàn lạc giây đang bỏ xó
Còn vọng nghe tiếng nức nở

Người chạy quanh theo thời thế,
rồi nhặng xanh bu lối về !
Mà lặng im bên mộ đá,
nào có biết gió Thu qua ?

Một người đi trong đám ma,
mặc người vui trong xa hoa !
Người tù tội trước quan toà,
chỉ gục đầu giấc mơ xa !

Hai mươi năm,
Triệu người đi trong cuộc sống
Mà thể xác như không hồn
Triệu người lao trong cùng khốn
Và buồn vui như bao lần

Hai mươi năm,
Người hiền lương dẫu còn sống
Phải cật lưng trong thiên đường
Những vết nhăn trên vừng trán
Và hòn than nung trong lòng

Người còn yêu hãy còn nhớ,
phải vượt qua những bến bờ
Phải tìm sâu trong hồn nước,
những thoi thóp những mong chờ

Người còn tha thiết núi sông,
thì sẽ thấy cơn mưa nguồn
Để lặn lội vẫn đi tìm,
sẽ thấy đường dấu quê hương .

Người còn tha thiết núi sông,
thì sẽ thấy cơn mưa nguồn
Để lặn lội vẫn đi tìm,
sẽ thấy đường dấu quê hương .

Hai mươi năm ...

I Told You So

0 comments
I Told You So

Carrie Underwood and Randy Travis

Verse 1
Suppose I called you up tonight
And told you that I love you
And suppose I said I want to come back home
And suppose I cried and said I think I finally learned my lesson
And Im tired of spending all my time alone
If I told you that I realized you're all I ever wanted
And it's killing me to be so far away
Would you tell me that you love me too
And would we cry together
Or would you simply laugh at me and say...

Chorus
I told you so, Oh I told you so
I told you some day you would come crawling back
And asking me to take you in
I told you so, but you had to go
Now I've found somebody new
And you will never break my heart in two again

Verse 2
If I got down on my knees
And told you I was yours forever
Would you get down on yours too and take my hand
Would we get that old-time feeling
Would we laugh and talk for hours
The way we did when our love first began
Would you tell me that you've missed me too
And that you've been so lonely
And you've waited for the day that I returned
And we'd live and love forever
And that I'm your one and only
Or would you say the tables finally turned

would you say...

Chorus

Friday, March 6, 2009

Is it Love or Infatuation?

0 comments

Is it Love or Infatuation?


Infatuation is instant desire. It is one set of glands calling to another.
Love is a friendship that has caught fire. It takes root and grows, one day at a time.
Infatuation is marked by a feeling of insecurity. You are excited and eager, but not genuinely happy. There are nagging doubts, unanswered questions, little bits and pieces about your beloved that you would just as soon not examine too closely. It might spoil the dream.
Love is quiet understanding and the mature acceptance of imperfection. It is real. It gives you strength and grows beyond you to bolster your beloved. You are warmed by his/her presence even when he/she is away. Miles do not separate you. You want him/her nearer, but near or far, you know he/she is yours and you can wait.
Infatuation says, "We must get married right away! I can't risk losing you!"
Love says, "Be patient. Do not panic. Plan your future with confidence."
Infatuation has an element of sexual excitement. If you are honest, you can admit it is difficult to be in one another's company unless you are sure it will end - in intimacy.
Love is the maturation of friendship. You must be friends before you can be lovers.
Infatuation lacks confidence. When he/she is away you wonder if he/she is cheating. Sometimes you check.
Love means trust. You are calm, secure and unthreatened. Your beloved feels that also and that makes them even more trustworthy.
Infatuation might lead you to do things you will regret later, but love never will.
Love is an upper. It makes you look up. It makes you think up. It makes you a better person.


(Author Unknown)

Sunday, March 1, 2009

Mắt Nhòa Đi Giữa Rừng Cờ Vàng

0 comments

Mắt Nhòa Đi Giữa Rừng Cờ Vàng

Màu cờ vàng ba sọc đỏ
thắm tươi tình đất Việt Nam
Như cha vẫn từng nhắn nhủ
Chết một lần hãy sống vinh quang

Ba miền quê cha đầy sóng gió
Huyết lệ Việt chảy tim màu sọc đỏ
Dương khí ngời gươm thiêng sáng tỏ
Quyết kiêu hùng ta chiến sĩ tự do

Miền đất hứa cờ xanh trắng đỏ
Đáy vực điêu tàn minh châu ngời sáng
Little Sàigòn thủ đô rực rỡ
Vì em dương cờ vàng ngạo nghễ hiên ngang

Bao bão giông một màu vàng bất khuất
Little Sàigòn em giữ kỷ nhé em
Máu kiêu hùng cha ông đã chảy
Phất hồn thiêng qua những đọa đầy

Ôi Little Sàigòn mắt nhòa lệ thấm
Việt Nam mãi trong ta một niềm kiêu hảnh
Đi giữa sắc màu trắng xanh đỏ thẩm
Còn có màu vàng lưu với sử xanh

Cát Biển
11/6/2008

Cờ vàng ba sọc đỏ
Cờ vàng ba sọc đỏ được dùng làm quốc kỳ cho Nước Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Ðại thành lập năm 1948. Lá cờ này cũng được tiếp tục dùng cho Nước Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Ðình Diệm thành lập ngày 26/10/1956.
Từ sau năm 1975, cờ vàng ba sọc đỏ vẫn tiếp tục tung bay tại các trại tị nạn ở Ðông Nam Á và tại những nơi định cư của người Việt chống chế độ cộng sản.
Cờ vàng ba sọc đỏ có mặt trong hầu hết các buổi sinh hoạt tập thể, có tính hội đoàn và cộng đồng, kể cả văn hoá, xã hội, tôn giáo, v.v. của người Việt ra đi từ miền Nam. Trong ba mươi năm qua, việc sử dụng cờ vàng ba sọc đỏ như một ngọn cờ tụ nghĩa và đấu tranh đã và đang đem lại nhiều kết quả tích cực, góp phần hóa giải những xung khắc trong cộng đồng người Việt và khiến cho cờ đỏ sao vàng hầu như không có chỗ đứng công khai và trước đám động tại hải ngoại.

Niềm Đam Mê Miệt Mài của Anh Bằng

0 comments

Niềm Đam Mê Miệt Mài của Anh Bằng

Cát Biển

Nhạc sĩ Anh Bằng đã không ngừng nghỉ trong lãnh vực sáng tác. Người chiến sĩ với nhiều kinh nghiệm chiến trường ấy vẫn không ngần ngại tiếp tục xông pha nơi trận tuyến. Ông rất am tường về khúc sông mà ông đang bơi lội, và vẫn miệt mài liên tục lặn hụp trong đó để khai phá, mang về những hải sản đặc biêt cho kho tàng văn hoá Việt Nam. Nhạc của Anh Bằng rất đa dạng từ tình ca, quê hương, xã hội, đến những bài nhạc phổ thơ rất trang trọng sâu sắc.

Chúng ta hãy nhớ lại bản nhạc đấu tranh sau đây của Anh Bằng sáng tác trong tác phẩm CD Lữa Bolsa khi ông cùng sánh vai với các tác giả Nhật Ngân và Trầm Tử Thiêng để đóng góp cho khí thế chung, lúc mà đồng bào Nam Cali đã tập hợp hơn 10 ngàn người tại Little Saigon tràn ngập lá cờ vàng biểu tình phản đối Trần Trường và biến thành một làn sóng lửa lan truyền sự nhất tâm tranh đấu đi khắp nơi tại Hoa Kỳ và thế giới:

Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Cho tình anh em Việt Nam đoàn kết
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên !
Xua ngàn tối tăm ra ngoài trái tim cùng một lời nguyền
Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Cho cờ vàng lên rực cao Tổ quốc
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên
Cho màu sáng thơm da vàng Việt Nam

Bàn tay anh, bàn tay em, bàn tay treo nắng trên đường phố
Bàn chân anh, bàn chân em, bàn chân ngăn bão táp phong ba
Cờ trong tay, đèn trong tay, lòng hăng say tiến lên ngày mới
Nối dây ân tình, nối lửa đấu tranh, nối lửa đấu tranh...
Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Soi đời người dân Việt Nam nghèo đói
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên !
Kiên cường đấu tranh cho ngày ấm no cho quyền làm người

Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Soi mặt từng tên Việt gian lạc hướng
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên !
Khơi lửa đấu tranh cho cả quê hương.
Anh Bằng (Nỗi lửa đấu tranh)

Qua các nhạc phẩm của ông chúng ta tìm gặp được một tâm hồn thiết tha bình dị với những lời tâm sự thân tình chảy mãi như con nước của một dòng sông. Nhạc của Anh Bằng đầy nét trìu mến thiết tha nhưng không có nét bi quan, than thở, mà có thể nói vươn lên trước hoàn cảnh.

Người ơi khi cố quên là khi lòng nhớ thêm
Dòng đời là chuỗi tiếc nhớ
Mơ vui là lúc ngàn đắng cay... xé tâm hồn
Tàn đêm tôi khóc khi trời mưa buồn hắt hiu
Lòng mình thầm nhớ dĩ vãng
Đau thương từ lúc vừa bước chân
Vào đường yêu
Đêm ấy mưa rơi nhiều
Giọt mưa tan tác mưa mùa ngâu
Tiễn chân người đi
Buồn che đôi mắt thấm ướt khi biệt ly
Nghe tim mình giá buốt
Hồi còi xé nát không gian
Xót thương vô vàn
Nhìn theo bóng tàu dần khuất trong màn êm
Mùa thu thương nhớ bao lần đi về có đôi
Mà người còn vắng bóng mãi
Hay duyên nồng thắm ngày ấy nay... đã phai rồi
Từ lâu tôi biết câu thời gian là thuốc tiên
Đời việc gì đến sẽ đến
Những ai bạc bẽo mình vẫn không... đành lòng quên
Anh Bằng (Sầu Lẻ Bóng)

Nói về nhạc của Anh Bằng, chúng ta không thể không bàn về những yếu tố tâm lý của những con người trưởng thành trong thời đại của ông nhất là sau biến cố chia đôi đất nước năm 1954. Những ngày ấy tôi còn thơ bé chưa hiểu gì về những ca từ mà lúc ấy có thể nói đã là một bước đi mới trong tân nhạc Việt Nam. Lời của những tình khúc của Anh Bằng rất gần gũỵi với tâm hồn bình dị không quá mỹ miều kỳ ảo mộng mơ như nhạc của Văn Cao chẳng hạn:

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên
Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần
Văn Cao (Thiên Thai)

hoặc mang nhiều hình ảnh sống động thương tâm của Phạm Duy

Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên luỹ tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta, đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ
Ngày trở về, trong bếp vui
Anh nói chuyện nghe: chuyện đời chiến sĩ
Sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê
Chiều lặn tà, anh bước ra
Vườn khuya sáng mờ, ruộng đất hoang vu
Luống nghẹn ngào, hẹn sớm tinh mơ anh về đồng lúa.
Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cày bừa
Vì thương yêu anh nên ngày trở về
Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ
Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ
Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về
Có anh thương binh sống đời hoà bình.
Phạm Duy (Ngày Trở Về)

Ca từ của Anh Bằng như lời tâm sự của một thanh niên mới lớn trước cảnh phân qua của đất nước và viễn tượng chinh chiến bùi ngùi:

Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa
Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian, tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng
Nay khóc tơ duyên lìa tan
Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ
Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi
trong bùi ngùi
Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi
Anh Bằng (Nỗi Niềm Người Đi)

Trong không khí khẩn trương của một Miền Bắc với những lời ca hừng hực căm hờn chiến đấu, nhắm vào quân thù mà bắn mà giết, với không khí ngột ngạt giáo điều từ những buổi đấu tố đánh tư bản, những màn chôn sống hoặc những cuộc thanh trừng đẫm máu...người ta tìm thấy không khí sáng tác Miền Nam vẫn đầy tính chất nhân bản như những lời nhạc của Lam Phương, Anh Bằng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Châu Kỳ v.v...Song song với những bài thơ bóng bẩy ấn tượng được phổ nhạc như Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ phổ nhạc bởi Phạm Đình Chương

Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu.
Mưa mù lên mấy vai gió mù lê mấy trời
Người đi qua đời tôi, hồn lưng miền rét mướt,
Vàng xưa đầy dấu chân, đen tối vùng lãng quên.
Bàn tay mềm khói sương, tiếng hát nào hơ nóng.
Và ai qua đời tôi, chiều âm vang ngàn sóng.
Trên lối về nghĩa trang ...
Nghe những lời linh hồn, nghe những lời linh hồn,
Trong mộ phần đen tối đen...
Phạm Đình Chương (Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ)

với lời lẽ có phần trừu tượng hơn, người ta đến với nhạc của Anh Bằng vì ngôn từ khá đơn giản và quen thuộc vì vậy mà dễ phổ cập trong số đông người nghe nhạc của Anh Bằng như những ca từ: ân ái, tơ duyên, mộng mơ v.v...

Anh Bằng có thể nói đến với âm nhạc một cách thuần tuý là ghi lại những âm hưởng rất người, rất nhân bản và bình dị ấy qua tâm tình của đại đa số thanh niên Việt. Âm nhạc của ông không mang một thông điệp triết lý quá cao siêu cho giới thưởng ngoạn đòi hỏi nhiều tư duy. Ông luôn bơi lội trong khúc sông mà ông đã rất quen thuộc. Và ông không ngừng nghỉ mang về từ khúc sông ấy những món ngon vật lạ. Anh Bằng không hề tạo thành một hiện tượng. Trong ca từ của ông chúng ta không thấy những đột phá như: Ru em hài nhung gấm, ru em gót sen hồng... Để một mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài...Đi lên non cao đi về biển rộng, đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng...Tình ta như núi rừng cúi đầu, nghe tiếng buồn rơi đều (Trịnh Công Sơn)
hay

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.
Tiễn em về xứ Mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Tuyết rơi mỏng manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng.
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.
Cung Trầm Tưởng (Tiễn Em)

Nhưng Anh Bằng luôn có một chỗ đứng đặc biệt trong nền âm nhạc Việt Nam và ông đã hoàn tất vai trò của ông một cách khá hoàn hảo trong phạm trù được ơn cao ban xuống cho phần đời của ông. Ta có thể nói Anh Bằng đã không ngừng nghỉ làm việc và vui chơi trong dòng nước ấy, và ông luôn miệt mài khai phá những cảm hứng, những rung động mới lạ trong vùng sông nước luân lưu đó.

Có những bản nhạc phổ thơ của các thi sĩ đã mang dòng nhạc của ông đi qua những vùng nước xoáy khác, như

Em là gái trong song cửa
Anh là mây bốn phương trời
Anh theo cánh gió chơi vơi
Em vẫn nằm trong nhung lụa
Em chỉ là em gái thôi
Người em sầu mộng của muôn đời
Tình em như tuyết giăng đầu núi
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ
Ai bảo em ngồi bên song
Cho vươn nợ thi nhân
Anh Bằng (Ai Bảo Em Là Giai Nhân Lời: Lưu Trọng Lư)

Hoặc

Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thuỵ ơi, và tình ơi !

Như loài chim bói cá
Trên cọc nhọn trăm năm
Tôi tìm đời đánh mất
Trong vũng nước cuộc đời
Thuỵ ơi, và tình ơi !

Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh rung
Vì sao chân không vững
Vì sao, và vì sao !

Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào
Cắt đứt cuộc tình đầu
Thuỵ bây giờ về đâu ?
Anh Bằng (Khúc Thuỵ Du, Lời: Du Tử Lê)

Hay là một hợp tác chung khá độc đáo với Lê Dinh và Minh Kỳ qua bút hiệu Lê Minh Bằng:

Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ
Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo
Ngày nó sống kiếp lang thang
Ngẩn ngơ như chim xa đàn
Nghĩ mình tủi thân muôn vàn

Mẹ nó ra đi khi còn tấm nhỏ
Một chén cơm chiều nhưng lòng chưa no
Cuộc sống đói rách bơ vơ
Hỏi ai ai cho nương nhờ
Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ

Đêm đêm nó ngủ một manh chiếu rách co ro
Một thân côi cút không nhà
Thân em lá cỏ bạn quen ai có đâu xa
Thằng tư con tám hôm qua trên phô lê la

Miền bắc điêu tàn nên đời nó khổ
Một chén cơm chiều nên lòng chưa no
Nhiều lúc nó khóc trong mơ
Mẹ ơi ! Con yêu mong chờ
Bao giờ cho đến bao giờ
Lê Minh Bằng (Nó)

Ngôn ngữ của Anh Bằng dĩ nhiên là có đầy tính lãng mạn và mộng mơ, nhưng không nằm trong ảnh hưởng đặc thù của nhạc tiền chiến. Ngày xưa lớn lên trong miền nam tôi cũng không ngờ Anh Bằng là người được sinh trưởng ở Hà Nội, vì tôi không bao giờ cảm thấy xa lạ với ngôn ngữ của ông. Ngôn từ của ông rất đồng điệu với mọi người miền nam bất kể trình độ nào. Ông là người chia sẻ các nỗi niềm tâm sự của ông đến khắp nơi như tiếng nói chung của một thế hệ mà trong giai đoạn đó vẫn còn rất lam lũ với cuộc sống, có nhiều người chưa có cơ hội đến trường học, một số đáng kể vẫn còn mù chữ. Ông đã nói lên được tiếng nói chung cho bao nhiêu người khác cùng mang các rung động chân thành ấy.

Thiết nghỉ để hiểu giá trị vị trí và tác động của dòng nhạc Anh Bằng vào văn hoá Việt Nam chúng ta cần nhìn lại các bối cảnh xã hội và tâm lý của một nước Việt trong giai đoạn chiến chinh binh lửa. Nhạc sĩ Anh Bằng đã đóng góp thiết thực lời ca tiếng hát từ tâm hồn ông cho đại đa số người Việt Nam còn đang vật lộn với cuộc sống khó khăn, cần người nói lên tiếng lòng của họ để chia sẻ phân trần những nỗi niềm tâm sự. Tôi kính phục và cảm tạ nơi nhạc sĩ Anh Bằng một điều ông đã đạt được với tính cách một nhạc sĩ sáng tạo. Đó là sự miệt mài khai phá trong niềm đam mê của chính ông. Nhạc sĩ Anh Bằng nói một cách khác đã phong phú hoá nền âm nhạc Việt từ buổi phôi thai, và ông không ngừng nghỉ ở vai trò tiên phong ấy, ông vẫn tiếp tục miệt mài vui chơi bơi lội nơi nhánh sông mà ông đã hiến trọn đời người để tìm tòi khám phá với những sáng tạo đa dạng mới lạ mang dấu ấn đặc thù của dòng nhạc Anh Bằng.

Cát Biển

Saturday, February 7, 2009

Một Người Mỹ Đáng Quý

0 comments

Một Người Mỹ Đáng Quý



Cát Biển

Trước khi đến Mỹ, phải thành thật nói, tôi còn rất kém cỏi về niềm vui của hiến tặng. Mà không riêng gì việc hiến tặng, tất cả những quan điểm về tôn trọng nữ giới, về bình đẳng đối với người đồng tính, về giá trị của cái đẹp và nhiều điều khác trong đời sống... cái nhìn trong tôi đều có thay đổi. Nước Mỹ nói chung và những người hàng ngày tiếp cận đã giúp tôi học hỏi được thêm về giá trị của cuộc sống.

Khi tôi mới vào nhận việc tại công ty chế tạo máy bay McDonnell Douglas (MD) ở Long Beach, công việc mới khác hẳn với việc tôi làm tại công ty Exxon Production Research (EPR) tại Houston TX trước đó. Tại EPR tôi là 1 kỹ sư designer, thiết kế các mạch điện tử và cả phần mềm điều khiển. Nhóm kỹ sư chúng tôi chế tạo các hệ thống máy thâu thập dữ kiện dò tìm dầu trong lòng đất. Sau đó, tôi được chỉ định hợp tác với Dr. Ken Avicola chú tâm vào các phát minh và ứng dụng mới của ngành fiber optics (dây dẫn quang). Vào năm 1985, kinh tế Houston bỗng xuống dốc. Tôi cố tìm xin việc làm bên Nam Cali và vui mừng được nhận vào hãng chế tạo máy bay McDonnell Douglas tại Long Beach.

Khi về nhận việc mới tại McDonnell Douglas, công việc tôi là làm system engineering chứ không còn là design engineer nữa. Tôi rất nhớ công việc tại EPR của kỹ sư thiết kế vì khi tạo ra 1 máy nào đó chạy ngon lành hoàn hảo thì hiển nhiên tác phẩm đó là đứa con của chính mình; mình thấy và sờ mó được nó. Làm system engineering thì vai trò không còn là 1 nhạc công trong ban nhạc nữa mà là 1 nhạc trưởng (conductor) điều khiển từ xa, chứ không là người nhạc sĩ bấm nốt. Khi hoàn tất, subsystems cũng do người khác làm (theo yêu cầu mình đặt ra) chứ không do chính tay mình chế tạo, nên tác phẩm trí tuệ của mình khi hoàn tất cũng trừu tượng chứ không hiển nhiên như của một kỹ sư thiết kế.

Ngày đầu tiên làm việc tôi được ông xếp Jim Shannon hướng dẫn về giờ giấc, phòng ốc, vật liệu supplies và một số chi tiết ghi tính giờ làm việc. Tôi còn đang bỡ ngỡ với cảnh mới, phòng ốc mới, thì có một người xếp của một nhóm kỹ sư kế bên ghé qua nơi chỗ tôi làm việc và tự giới thiệu: "Hi, my name is John Marcin...I guess you have just started here?" - John nở nụ cười thân mật... "Vâng, tôi tên Sơn, mới bắt đầu ngày hôm qua, ông xếp tôi là Jim Shannon" tôi đáp. "Oh...Vậy anh cũng làm nghiên cứu về fiber optics trong nhóm Jim Shannon như nhóm chúng tôi đang làm...tôi có mấy quyển sách mới khá tốt về fiber optics...ngày mai tôi sẽ mang đến tặng anh, hi vọng nó sẽ giúp anh phần nào..." John mở lời thân mật. "Tuyệt quá. Xin thành thật cám ơn ông trước nhé. Ông quá tốt đối với người mới như tôi!"

John có một dáng người dong dỏng cao hơn 6 feet và một thân hình hơi gầy. Với nét hiền từ đức độ và nụ cười thật tươi của ông, John có khá nhiều nếp nhăn nơi khuôn mặt. Ông luôn là một gentleman, ung dung, thanh nhã, lịch sự. Ngày hôm sau, trong sự mến mộ và biết ơn của tôi, John mang đến 2 quyển sách, có một quyển xuất bản bởi công ty Corning chuyên sản xuất dây cáp quang, gồm cả phần lý thuyết về quang học và các chỉ số danh từ kỹ thuật, rất hay và thực dụng mà tôi đang cần. Tôi thầm cám ơn John thật nhiều với tấm lòng tốt cho những ngày đầu làm việc tại MD. John cũng làm tôi thật nhớ ông Bob Stanley ở EPR. Ông ta cũng là 1 xếp của nhóm kỹ sư kế bên, cũng ghé sang phòng làm việc tôi chào hỏi ngày đầu tiên tôi nhận việc và tặng tôi các tài liệu kỹ thuật cùng với những lời han hỏi là giúp đỡ thật tận tình suốt 5 năm trời tôi làm việc ở đó. Hai người này đã dạy cho tôi 1 đức tính thật đẹp của người Mỹ mà tôi sau đó áp dụng, là chuẩn bị 1 số tài liệu và kiến thức hay, để giúp đỡ hiến tặng những người khác đang cần có các kiến thức đó. Tôi học hỏi được niềm vui của hiến tặng đó. Một tháng sau có hai kỹ sư mới vào làm việc tên Tom Todd và Todd Williams, tôi cũng đã để dành 4 quyển sách hay nhất đem tặng cho họ ngày họ mới vào làm việc trong nhóm. Do đó mối giao tình giữa tôi với Tom và Todd thành thân thiết ngay từ buổi đầu tiên.

Một lần nọ ông Lou Feiner, một người Senior Manager mà tôi rất thân quý, kính nể và tin cậy, tỏ lời khuyến khích chân tình rằng tôi nên "tự mình trau dồi kỹ năng cho đến đích". Lúc ấy tôi đang sử dụng program Excel rất mới mẻ. Nhờ vào lời khuyên đó của Lou tôi đã đầu tư nhiều tâm trí và sử dụng Excel rất thuần thục. Rồi trong một câu chuyện John khuyến khích tôi nên ghi danh dạy các courses Excel mà ông hi vọng tôi sẽ thích thú. Quả thật, nhờ lời khuyên đó tôi đã hăng hái ghi tên dạy học và trở thành một instructor các lớp sau giờ làm việc tại công ty về các khoá dạy Excel, Powerpoint, Access database. Mỗi môn học có 3 đẳng cấp: Introductory, Intermediate, và Advanced. Với tiền dạy học không tệ ($45/giờ), các courses này đã là động lực khiến tôi không ngừng nghỉ tự trao dồi kỹ năng thật sâu cho các phần mềm đó, vì các lớp học này luôn luôn có những câu hỏi thú vị và bất ngờ. Ngoài ra, vì đi học rồi đi dạy kèm gần như suốt cuộc đời không ngừng nghỉ qua 3 trường đại học tại Mỹ và nhiều khoá huấn luyện đủ thứ trong mấy nhiêu năm làm việc, tôi học hỏi và áp dụng được một số bí quyết của các vị giáo sư giỏi mà tôi ngưỡng mộ. Các lớp tôi dạy vì vậy luôn nhộn nhịp với các câu hỏi và trả lời kích động sự suy tư giữa thầy và trò. Ngoài ra tôi còn sưu tầm các jokes vui cười của Johnny Carson và Jay Leno để giúp bầu không khí trong lớp luôn nhẹ nhàng tươi vui. Các lớp học tại Mỹ luôn luôn có phần phê điểm của học viên phê bình thầy ở ngày cuối khoá học. Điểm của tôi được xếp vào tên các instructors được hạng điểm tốt nhất. Riêng mình thì được phần thưởng đặc biệt của người dạy học, là niềm sung sướng khó tả của sứ mạng hoàn thành phần nào công việc của một người "truyền kiến thức". Đó là niềm vui khi thấy những học viên bỡ ngỡ lọng cọng ngày đầu khi mới vào lớp, trở nên những người quen tay, thành thạo khi mãn lớp học. Nhiều học viên sau khi học xong liên tục áp dụng các kỹ năng đó và gọi điện thoại hỏi tôi mỗi khi gặp điều gì trở ngại.

Khi các kỹ sư nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật mới, một công việc rất quan trọng là thuyết trình các projects mình đang làm cho mọi người liên hệ khi khởi đầu, khi đạt được kết quả quan trọng, và khi hoàn tất. Vì các bài thuyết trình của tôi dễ hiểu và thể hiện rõ ràng các chi tiết quan trọng làm người nghe nhận bắt ngay các điểm then chốt, tôi được sự chấp nhận của các người cộng sự. Theo ngày tháng làm việc với MD tôi trở thành người bạn thân của Lou Feiner và John Marcin. Mỗi lần gặp gỡ ông Lou để bàn về kỹ thuật, chúng tôi luôn nảy sinh ra nhiều giải đáp kỹ thuật mới làm giảm chi phí hoặc tăng hiệu quả sản xuất cho công ty. Mỗi lần bàn luận với John, tôi luôn ghi nhận nơi ông một tâm hồn rất đẹp, rất vị tha với ước mơ bao la một công bằng cho xã hội.

Một dạo nọ, tôi và John Marcin cùng đi dự một conference (hội nghị) về fiber optics tại Salt Lake City, Utah. Người tham dự là các kỹ sư ngành hàng không nhiều thuộc quốc gia. Buổi trưa ngày cuối cùng kết thúc hội nghị, với tư cách là Chairman của Fiber Optic Broadband Committee thuộc SEA (Society of Automotive Engineers), tôi có nhiệm vụ đúc kết chương trình hội nghị và tổng kết các điểm chính cần phải làm để đẩy mạnh ngành fiber optics cho các kỹ sư của các công ty hội viên. Tôi nhớ lúc đó John bỗng đề nghị tôi kể thêm 1 chuyện vui. Thế là tôi cũng hứng chí kể luôn chuyện vui về người đàn bà comedian nổi tiếng Phyllis Diller. Bà này thường trình diễn các show tại Las Vegas với các chuyện tiếu lâm "người lớn", hầu như không loại tiếu lâm "mặn" nào mà bà ngại cả. Câu chuyện như thế này:

Ngày nọ bà Phyllis đi vacation bên Úc, không may trong lúc đi chơi bà vô ý ngã xuống làm cánh tay trái bị nứt xương phải băng bột. Có điều bà ta phải về Las Vegas để trình diễn 1 show comedy vào cuối tháng đó. Bà Phyllis gọi điện thoại tới một trong những writers thân tín của bà và nói: bạn hãy nghỉ cho tôi 1 chuyện thật vui với cánh tay gẫy này, bằng không tôi không thể nào xuất hiện tại Las Vegas với cánh tay băng bột như thế này cả. (Lưu ý, các tay khôi hài nổi tiếng như Bob Hope, Johnny Carson, Jay Leno, David Letterman v.v...đều có người viết lời khôi hài cho họ trình diễn, tương tự như những người chuyên viết diễn văn cho Tổng Thống).
Cuối tháng đó, bà Phyllis xuất hiện trước khán giả nhộn nhịp tại Las Vegas với cánh tay trái băng thạch cao và một đây đai treo từ cổ tay lên vai. Tay bên phải bà cầm một điếu thuốc lá gắn ống điếu thật dài, theo cung cách người đàn bà lão luyện. Bà mở đầu show hôm đó với một nụ cười duyên và nói:
"Trước khi khởi đầu chương trình thật vui và hấp dẫn của chúng ta ngày hôm nay, tôi có 1 điều quan trọng cần công bố với quần chúng...(khán giả bắt đầu mỉm cười và lắng nghe)
Chuyện là trang 154 của quyển sách The Joy Of Sex (tức quyển sách nổi tiếng về các kỹ thuật làm tình) có chỗ hình in bị sai vì lỗi typo...(khán giả bên dưới bắt đầu cười rúc rích)
Nếu các bạn áp dụng theo kiểu đó, cánh tay trái của bạn sẽ có thể bị đau hoặc gẫy tay...nhưng bù lại thì sẽ sướng không thể tả...(đến đây thì mọi người cười oà ra)"

Tôi kể nguyên câu chuyện này và được mọi người trong phòng họp thưởng cho một trận cười thoả thích, sau 3 hôm hội nghị bàn luận về các đề tài kỹ thuật khá khô khan. Ngày hôm sau trong lúc ngồi chờ máy bay tại phi trường Salt Lake, John bỗng hỏi tôi: "Nếu anh trúng số độc đắc có thật nhiều tiền, anh sẽ làm gì?" "John, có lẽ tôi sẽ dẹp hết mọi chuyện xin học thêm bằng Ph. D. ngành Điện, vì tôi còn thèm muốn học hỏi thêm thật nhiều. Thế còn ông thì sao?" "Tôi muốn ghi danh học Luật." "Ủa, sao lại là luật chứ" tôi ngạc nhiên, vì John đã có bằng Master về Điện tại trường nổi tiếng UC Berkeley. " Vì tôi muốn làm luật sư tình nguyện cho tổ chức American Civil Liberties Union (ACLU) nhằm bảo vệ quyền bình đẳng nhân quyền, tôn giáo và công bằng xã hội."

Kỷ niệm chuyến đi đó cho tôi hiểu và quý trọng thêm về bản tánh của John. Chúng tôi cùng làm việc nghiên cứu các kỹ thuật ứng dụng mới của dây "dẫn quang" (optical fiber) nhằm điều khiển máy bay bằng tia sáng thay vì dòng điện. John luôn được mọi người quý mến vì cách ăn nói hoà nhã từ tốn. Ông có một đức tính đặc biệt là luôn luôn có mặt ở sở đúng giờ và hầu như quanh năm không bao giờ khai bệnh. Giờ làm việc khởi đầu lúc 7 giờ sáng, John luôn luôn có mặt ở sở trước 6:45AM, người ta luôn thấy John đến sớm ngồi đọc báo trước khi bắt tay vào công việc sở. Những lần đi ăn trưa chung với các bạn đồng nghiệp tại các nhà hàng vùng Long Beach, John luôn luôn tính ra con số tiền tip chính xác là 15%, không hơn không kém. Ông đúng là một mẫu người mực thước. John có một cái nhìn rất thoáng về công việc và tôn trọng sự phát triển kỹ năng. Mỗi khi tôi muốn tham dự các hội nghị, hoặc ghi danh học các khoá huấn luyện về ngành kỹ thuật chúng tôi đang nghiên cứu, ông đều chuẩn phê một cách vui vẻ. Có dạo phong trào aerobics được bùng nổ khắp nơi, John chính là một trong những người đầu tiên ghi danh tập thể dục aerobics theo các điệu nhạc vào mỗi trưa trong giờ ăn lunch.

Một hôm tình cờ câu chuyện đưa đẩy, chúng tôi bàn lan qua chiến tranh Việt Nam, một đề tài tôi rất né tránh vì ít cảm thấy thoải mái bàn với nhiều người Mỹ. John nói: "Chính phủ Hoa Kỳ thật vô trách nhiệm khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam như thế..." "Ông có thể nói rõ hơn...vô trách nhiệm thế nào?" Tôi hỏi John. "Tôi hoàn toàn không đồng ý việc rút lui, vì chiến tranh cần phải giải quyết bằng chiến thắng. Làm như thế là không đầu không đuôi. Một quốc gia không thể nào nhảy vào một cuộc chiến, để rồi lại dùng giải pháp chính trị để rút lui. Hành xử như thế là hèn nhát và phản bội."

Khỏi phải nói, những lời nói đó của John làm cho tôi nghe thật mát dạ. Sự khác biệt giữa Lou Feiner và John Marcin, hai người mà tôi rất mực thương quý, là ở chỗ ông Lou rất vui nhộn và thực tế, còn ông John thì thầm trầm hơn. John cư xử thanh nhã, nhẹ nhàng với một tâm hồn thật rộng lượng mà tôi chưa từng gặp qua. Với Lou chúng tôi bàn mê say các ý tưởng kỹ thuật mới lạ cho công việc. Với John ông trân quý con người qua các nét đẹp về tinh thần. Mỗi lần đi ăn trưa chung với Lou hay với John, tôi đều có cảm giác thân thương gần gũi và quý trọng. John có một người con trẻ và đẹp trai. Cậu này đang làm việc bên nhóm máy bay MD-80, thỉnh thoảng ghé vào thăm ông ta. Hai người nói chuyện to nhỏ thật thân mật. John tâm sự với tôi ông có 2 cậu con trai cực kỳ thương yêu ông ta, và một bà vợ tuyệt vời hết mực thương chồng.

Nhưng dòng đời thì không bình lặng. Công ty McDonnell Douglas gặp nhiều khó khăn cạnh tranh với Boeing, càng nhiều khó khăn hơn khi các quốc gia Âu Châu hợp tác thành lập công ty Airbus chế tạo các máy bay mới bán với giá hạ (vì các quốc gia Âu Châu tài trợ để xâm nhập vào thị trường máy bay vốn do Mỹ nắm vững). Nội bộ công ty McDonnell Douglas trải qua nhiều sóng gió và thay đổi, nhằm giảm thiểu giá thành sản xuất máy bay. Hệ thống quản trị bị hoán đổi từ trên xuống dưới theo phong trào Total Quality Management khởi xướng khắp nơi. Đang từ là một ông xếp cao cấp với nhiều triển vọng tiến xa, Lou Feiner trở thành một Manager cấp thấp. Ông xếp tôi Jim Shannon thì đổi qua chương trình máy bay MD-80. John Marcin trở thành xếp của các chương trình nghiên cứu, gồm nhóm tôi và các kỹ sư khác. Tôi thiết kế và tự lắp ráp 1 hệ thống điều khiển dùng fiber optics trong phòng thí nghiệm. Các xếp lớn khác cũng ghé qua xem và quan sát tận mắt kỹ thuật điều khiển máy bay dùng tia sáng truyền qua các dây dẫn quang này, với nhiều triển vọng. John xin hẹn với ông xếp lớn, Jack McDonnell, đề nghị thăng cấp cho tôi vào cuối năm đó.

Bỗng dưng công ty lại có thêm nhiều biến cố. Công ty Airbus muốn cạnh tranh với Boeing nên có ý muốn mua công ty McDonnlell Douglas để tiến sâu vào thị trường hàng không và không gian Hoa Kỳ. Công ty Boeing bèn đi trước 1 nước, thoả thuận mua công ty McDonnell Douglas, để sát nhập cả các ngành quan trọng của hai công ty là Defense (vũ khí quốc phòng), Hàng Không (máy bay dân sự) và Không Gian (phi thuyền). Nội bộ công ty tôi lại thêm thay đổi, với đợt sáp nhập các phần ban và loại bỏ thêm một số chức vụ quản trị. Cuối năm 1998 Lou Feiner, Jim Shannon, John Marcin, Jack Hancock và một số các xếp khác chấp nhận "the golden handshake", tức là gói quyền lợi để về hưu non.
Tôi rất buồn và tiếc với sự ra đi này của những người mà tôi rất thân quý...Ngày làm tiệc potluck tổ chức mừng về hưu của các người này, bạn bè đồng nghiệp ai cũng thân mật đứng lên kể chuyện tếu, các kỷ niệm vui buồn với các người sắp nghỉ hưu. Đến phiên tôi, tôi nói đùa về John là: "Bây giờ mỗi buổi sáng John đều có thể dậy thật sớm, không phải để đi làm như chúng tôi nữa, mà để vẫy tay tiễn đưa các người vẫn còn phải đi làm. Thêm nữa, nếu so sánh chuyện các con ngựa đua, khi các con ngựa đua nổi tiếng không còn ra sân đua nữa thì chúng có một trọng trách cao cả hơn là...gầy giống cho các thế hệ kế tiếp...hi vọng John và Lou sẽ hoàn thành sứ mạng cao cả này" làm mọi người cười vui. Mọi người đều biết Lou có người vợ đẹp làm ngành địa ốc rất giỏi có thâu nhập còn cao hơn Lou. Sau này Lou cho tôi biết ông ta đầu tư thị trường chứng khoán năm đó lời gấp 2 lần mức lương của ông lúc còn làm việc. Lou dọn về nhà mới ở San Diego vui chơi đánh golf hằng ngày với nhóm bạn. Tôi quá bận công việc nên ít liên lạc với John.

Năm đó tôi không được thăng chức, vì ông xếp mới từ nhóm khác đổi qua không đề nghị ai thăng chức cả. Điều này không làm tôi buồn nhưng càng làm tôi nhớ Lou và John, nhất là những buổi ăn trưa thiếu vắng hai người này. Thay vào đó một niềm vui là tôi được 4 bằng phát minh về fiber optics do US Patent and Trademark Office cấp, và được công ty tưởng thưởng số tiền mặt đáng kể.

Có một lần tôi gọi điện thoại thăm hỏi John, ông cho biết là ông thường xuyên làm các bịch sandwich rồi lái xe đem tặng cho các người homeless mỗi buổi trưa. Số lượng các phần ăn này không nhiều và chỉ tốn ông khoảng $50 mỗi tháng. Nhưng John thấy vui làm được những điều nhỏ bé như thế.

Thế rồi một biến cố thật lạ lùng xảy đến. Sau ngày Lou và John về hưu được khoảng 9 tháng, một buổi trưa tôi nhận được điện thoại của Lou gọi vào sở, hốt hoảng nói với tôi rằng John Marcin đã chết. Memorial service (tang lễ) sẽ được cử hành vào tối thứ sáu, mong mỏi bạn bè cùng đến tham dự. Tôi thật bàng hoàng giống như Lou, người đưa tin, không biết lý do gì John đã chết.

Tối thứ Sáu hôm đó người dự đám tang của John đông kinh khủng. Thật nhiều đồng nghiệp cũ của công ty McDonnell Douglas có mặt. Ai cũng không tiếc lời thương nhớ John, một con người thành thật, cao quý và đức độ. Jennifer, người vợ của John mà tôi đã gặp mặt hôm làm potluck tiệc về hưu, đến bắt tay tôi thật thân tình và khóc nức nở với tôi. Tôi hỏi lý do gì John đã chết nhưng bà không trả lời câu hỏi của tôi mà chỉ khóc ràn rụa với lời nói "Oh my god...I miss and love him so much..." Dự đám tang về tôi vẫn ngỡ ngàng không biết lý do gì đưa đến cái chết của John. Thật là kỳ lạ. Hai cậu con trai khóc và buồn thảm thương. Ngày hôm sau tôi lại nhận được điện thoại của Jennifer gọi vào sở, bà ta khóc nức nở nói...vì John thường đi ăn trưa với tôi, nên nói chuyện với tôi bà cũng có cảm tưởng đang nói chuyện với John...tôi hỏi thăm lý do nào đưa đến cái chết của John...bà nói: "chúng tôi vừa đi du lịch tàu thuỷ (cruise trip) thật vui, ghé qua chơi New York và Las Vegas thật tuyệt vời...rồi chỉ vì một chuyện gây gổ nho nhỏ không ra gì, ông ta bỏ đi ra garage. Tôi chờ lâu quá không thấy ông về phòng, đi ra garage tìm thì thấy John đã treo cổ tự tử"...nói đến đó bà khóc nức nở qua giây điện thoại và lập lại..."I miss him so much, I just miss him so much..." Tôi thật sững sờ và bàng hoàng nguyên ngày hôm đó...

Ba tháng liên tục sau đó trong thương nhớ, tôi cứ nằm mơ thấy John hiện về. Cũng với dáng dong dỏng cao, cặp mắt sáng ngời, và nụ cười tươi đáng mến. Tôi cố gắng ráp nối những gì mình biết để trả lời tại sao một người luôn luôn quý trọng sự sống, chăm sóc bản thân và có nếp sống rất ư mực thước như ông lại có thể dễ dàng đi tìm cái chết chỉ vì một cãi vã cỏn con với người vợ mà ông rất mực yêu quý? Cuối cùng tôi đoán, có lẽ sau bao nhiêu năm trường quá quen với nếp sống mực thước của một tư chức, ông ta bị hụt hẫng với những tháng ngày về hưu nhàm chán chăng? Để rồi rơi vào chứng trầm cảm (depression) nào đó...rồi một ngày chỉ vì một cãi vã tầm thường John cảm thấy không còn tha thiết cuộc sống nữa? Có lẽ tôi sẽ không bao giờ biết đích thật những gì đã khiến John tìm đến cái chết như vậy...

Có người nói "khi ra đi chúng ta không mang theo được gì cả, ngoại trừ những gì mình đã hiến tặng khi còn sống." John đã làm gương cho tôi về sự hiến tặng, và một cái nhìn rộng rãi về ý nghĩa cuộc đời. John đã dạy tôi cái đẹp của con người nước Mỹ, và cho tôi niềm tự hào: tôi là một công dân Mỹ.

Cát Biển

Monday, January 26, 2009

Nhắn Với Khang

0 comments
Nhắn Với Khang

Khang Thân,
Giờ này ngồi đây viết những dòng chữ này cho Khang...chắc mày ngạc nhiên lắm? Chắc hẳn mày không ngờ tên bạn thân xưa của thời mới lớn vẫn còn nghỉ đến mày ? Mới đây vào đêm New Year Eve bỗng nhiên tao nhớ đến Tân và gọi thăm hắn...hai đứa thật cảm động nói chuyện với nhau không muốn dứt...ngày nào còn độc thân quấn quít bên nhau giờ đây đứa nào cũng có gia đình, có con có cháu và cả biết bao chuyện hệ luỵ trong cuốc sống này quây quần xung quanh chi phối cuộc đời chúng ta..Tân nhắn là mày đang liên lạc khắp nơi tìm số điện thoại của tao..bạn bè vẫn luôn ngạc nhiên nhìn tao như một người lãng tử...vẫn mải miết đi tìm điều gì đó trong cõi đời này...và riêng mình, tao vẫn thầm nở một nụ cười an nhiên tự tại.
Tất cả là một chuyến xe qua một hành tinh, mong mình còn bắt giữ những viên lưu ly dẫu biết là không trường cửu...như một người đã nói “không có những hạnh phúc vĩnh cửu”...nhưng Khang ạ, tao vẫn tin có những khoảnh khắc vĩnh cửu. Của tình yêu, của tình bạn, của tình thương. Bạn mày vẫn còn ôm một mớ idealistic beliefs y hệt như ngày xưa lũ tụi mình thời mới lớn quây quần nhìn sao đêm và bàn luận say mê về triết lý, về Sartre, Malreaux, Gide, Maurois, Carl Max, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Bùi Giáng v.v...phải không Khang ?
Từ những ngày đam mê viết báo tường, viết đặc san trường, vô tình mình mang vào hồn một chút gì đó sứ mạng của người cầm bút. Tân rất ngạc nhiên khi mình cũng say mê với thơ và từ đó những bài thơ thành các ca từ của nhạc. Ba tao giờ sống trở lại chắc hẳn rất ngạc nhiên vì đứa con ông từng rất muốn dạy đàn mỗi lần bấm đàn cứ bị đau tay, bây giờ có thêm chút duyên nợ với nhạc. Âu thì cũng là sáng tạo cả. Mấy câu thơ của mình cứ thoáng mang nét trừu tượng dầu mình cố gắng cách mấy dùng các ngôn từ thật gần gũi, trực tiếp. Thôi đành chịu vậy vì có sửa cũng vô ích và không còn là mình nữa, tức là sẽ đánh mất đi niềm yêu thích.
Người viết văn cần có nhiều sáng tạo nhất là cần có khiếu dựng truyện. Trái lại kẻ làm thơ cần phải viết thật bằng rung động của con tim. Thoáng nghe tưởng là cả hai vai trò đều là sáng tạo, nhưng sự thật khác nhau là thế. Có chuyện một nhà thơ kia viết bài thơ Thương Tiếc Mẹ được giải nhất, đến ngày trao giải ông ta lên micro giới thiệu bà mẹ vẫn còn sống đang ngồi dưới kia, làm mọi người thắc mắc hoang mang. Nhạc sĩ Song Ngọc có sáng tác một bản nhạc thương nhớ về Hà Nội rất hay, nhưng ông ta tiết lộ mình chưa hề đặt chân ra đất Bắc.
Nhớ lại những ngày chúng ta bàn luận sôi nổi về sứ mạng người cầm bút. Phần nào đó, con người cầm bút phải sống cho lý tưởng mình đã chọn lựa có phải không Khang ? Viết tức là vạch một phần quả tim mình chia sẻ với cuộc đời. How much you get out of life depends on how much you put into it. Bạn sẽ nhận bao nhiêu từ cuộc đời là tuỳ thuộc vào mức độ bạn đóng góp vào nó.
Khang thân, tao vẫn còn nhớ mày yêu say đắm người nữ sinh ở Phan Thiết. Như những kỷ niệm đẹp nào đó của một cuộc tình không trọn vẹn, âu thì cứ giữ trong hồn như những gì tinh khiết, trong sạch và tha thiết nhất của thời mới lớn. Qua bao chuyến xe tình đời, cái đẹp trong nhận thức của tao có thể nói là có điểm khác khá nhiều với ngày xưa thơ dại. Thí dụ nhé, nét đẹp qua nhận thức của một vị giám khảo một cuộc thi Hoa Hậu chắc hẳn sẽ khác biệt rất nhiều với nhận thức của một vị thầy tướng số hoặc một nhà sư vì mỗi người nhìn qua một lăng kính khác nhau. Vị giám khảo sẽ chú ý nhiều hơn vào các chỉ số 35-23-33 chẳng hạn, vị thầy tướng số sẽ chú ý hơn ở cặp mắt nụ cười đôi tai cách ngồi đi đứng tiếng nói, còn vị sư thì sẽ chú ý nhiều hơn ở cung cách suy tư đối đáp. Tao thích nép đẹp của một con người biết trao đổi, biết cho và biết nhận, biết ứng xử thích nghi với những hoàn cảnh dầu khó khăn, biết vui từ những niềm vui nhỏ bé đến những ước vọng thật cao cả bao la. Tao nghỉ món quà cao quý nhất của cuộc đời là có một người bạn đồng hành mà mình có thể chia sẻ những cảm giác vui buồn hoặc những niềm vui mới lạ như trong những chuyến du lịch hoặc khám phá bề ngang bề rộng của cuộc đời trong những kho tàng văn hoá. Lại thấy bạn mày vẫn là một con người lý tưởng phải không Khang ?
Khang ạ, từ ngày trôi dạt sang nước Mỹ mày ở một phương, tao trôi dạt một miền khác, và Tân thì được đời đưa đẩy cách xa nhau dẫu bạn bè luôn mong mỏi được gần nhau. Có lẽ điểm chung của chúng ta vẫn còn là ở những kỷ niệm thân thiết với quê hương. Chúng ta còn nghỉ đến nhau vì chúng ta từng có một thời lớn lên đầy tình thân yêu của bằng hữu, lồng trong những suy tư của một người con nước Việt.Một ngày đầu Xuân, một lá thư không thể nói cạn ý của những người còn nghỉ và nhớ đến bạn thân. Xin gửi bạn chút tình cảm chân thành của tấm lòng thương quý.Không biết mày hiện ở phương trời nào, nhưng tao mong mày tìm được bình an và hạnh phúc. Dầu ít liên lạc nhau nhưng trong tâm hồn tao vẫn có một chỗ rất đặc biệt nghỉ về mày, dành cho mày, như một kỷ niệm với quê hương yêu dấu.
Với thật nhiều thương mến,
Cát Biển
Xuân Kỷ Sữu 2009

Thương Lắm Những Dại Khờ

0 comments


Thương Lắm Những Dại Khờ

Thương những ngày mộng mơ
Bắn bi và trốn học
Hồ sen đùa tuổi ngọc
Bên sóng biển đọc thơ

Đố vui rồi đánh cờ
cùng bạn thân đàn hát
nằm dài trên biển cát
Dệt ước mộng vu vơ

Vai ba lô cùng bạn
Học đánh morse phất cờ
Gút giây và lữa trại
Trò chơi lớn dọc ngang

Gần xa như tiền kiếp
Như gió thoảng cơn mơ
Cung đàn còn ngân nhịp
Yêu quá những dại khờ

Cát Biển
27 Aug 2008

Saturday, January 24, 2009

Bài Ca Chào Xuân

0 comments

Bài Ca Chào Xuân

Như Xuân nắng thắm đóa hồng
Lời chim ríu rít tình nồng nhắn trao
Bên hồ rạng những vì sao
Nghe ta nhịp đập dạt dào nhớ nhung

Nhiều đêm tiếng gọi mông lung
Giăng tay níu kéo ngại ngùng - sắc không
Gọi người như gọi bão giông
Nghiêng đời trầm bỗng nặng lòng gió sương

Thà là chấm nhỏ tình thương
Thà là hạt bụi qua đường nhắn trao
Dẫu trời mộng thắm cho nhau
Cũng là mưa lũ hư hao xác hồn

Lòng ai tỏa một đài sen
Ngân vang tiếng thủy tinh len khóe lòng
Giấc mơ tỉnh thức đêm Đông
Xin trôi nhánh diệu về sông kiếp người

Cát Biển
24 Jan 2009

Tuesday, January 6, 2009

Cha Tôi Và Mùa Xuân Yêu Dấu

0 comments




Hôm nay mùa Xuân lại sắp về trên xứ sở Hoa Kỳ. Đứa con trẻ dại ngày xưa giờ đã qua khỏi tuổi thanh xuân từ lâu, chợt nhớ về Ba xin ghi lại những dòng ký ức nhạt nhòa pha với giọt ướt nơi mắt.

Vào tháng 4 năm 2002, Tôi từ Nam Cali và chị Hoàng Nam từ Minesota cùng hẹn nhau qua Philadelphia thăm Ba. Trí nhớ của Ba như đã cạn hẳn. Người cha yêu dấu với ngón đàn du dương, làn hơi truyền cảm và giọng kể chuyện đầy mê hoặc, người đã mang hình ảnh Tết thiêng liêng về bên bàn thờ tổ tiên mỗi mùa Xuân cho gia đình chúng tôi giờ chỉ còn là một thân xác gầy gò, tóc bạc sương, ngồi xe lăn với cặp mắt nhìn trống rỗng thờ thẩn xa xôi vào hư vô. Ba chỉ cười nhìn các con nhưng nét tinh anh sắc bén của tầm mắt không còn nữa. Ba như ngọn đèn leo lét trước gió. Một năm sau đó Ba vĩnh biệt cuộc đời.

Con người sống nhiều nhất trong nỗi nhớ là khi mất mát, đau thương, gãy đổ. Nỗi nhớ sâu trong tâm thức có thể được dấy lên từ một tình yêu không tron vẹn nào đó, một thời tuổi ngọc qua đi, một mái ấm gia đình bị tan vỡ, hay một quê hương đã mất. Chỉ khi nào chúng ta tìm bắt lại được bóng dáng hạnh phúc khác thay thế vào chổ trống vắng đau thương ấy thì nỗi nhớ mới nguôi ngoai phần nào. Và lúc ấy con người mới có thể về sống lại cùng với hiện tại.

Ba mất đi để lại nhiều kỷ niệm về một thời rất đẹp với quê hương khi gia đình còn có những buổi ăn tràn đầy tình thương yêu lúc các con của Mẹ còn quây quần đông đủ bên quầy canh chua cá nục kho tuyệt vời và thèm khát lắng nghe những chuyện kể đầy thích thú mê hoặc của Ba.

Mùa Xuân đầu tiên trên đất Mỹ năm 1976 sau những biến đỗi to tát đời mình, tôi tìm được chút giây phút tỉnh lặng ngồi nhớ lại không khí Tết ở quê nhà, thấy tết quê mình sao mà thiêng liêng sao mà ấm cúng thiết tha như thế. Thế là thân xác thì sống trong hiện tại mà hồn thì cứ tưởng nhớ những kỷ niệm đẹp xa xưa. Sau khi tốt nghiệp ra trường ngành Kỹ Sư năm 1980 tôi được việc làm với hảng Exxon Production Research ở Houston TX. Những dịp Tết kế tiếp tôi cùng những đồng hương Việt tị nạn tại thành phố Houston tham dự Xuân Hội Ngộ tại Sharpstown. Tiếng trống lân trong xác pháo tại Hoa Kỳ lại làm tôi chạnh nhớ các buổi múa Rồng và Lân rất rình rang rầm rộ tại quê hương Phan Thiết để rồi lại nhớ quê hương cũ da diết.

Nếu nói về những kỷ niệm hội hè ở quê nhà đáng nhớ nhất phải nói là ngày lể Tết được đi xem con Rồng Thanh Long của Phan Thiết múa. Lủ trẻ chúng tôi nô nức đi ra đường xem giửa rừng người, cảnh tượng con Rồng uốn lượn theo trái Châu được vũ lộng xoay vần liên tục bởi một thanh niên lực lưỡng để dẩn Rồng quây quyện, cuộn các con Lân vào giữa, theo tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..." hùng dũng, tiếng chiêng "cheng...cheng..." ngân vang, tiếng tu huýt tíu tít điều khiển, tiếng chân người của đoàn Rồng to lớn, tiếng lục lạc từ thân Rồng lúc lắc theo nhịp chân chạy xào xạc reo vang khắp nơi, cùng xen lẫn các điệu trống Lân "cắc cá lắc cắc cắc... tùng tùng...." khi thì dồn dập, khi thì "xổ..." một tràng dài, khi nhịp đều "cắc tùng tùng... cắc tùng tùng..." lúc các con Lân chồng người lên cao để tung qua mình Rồng thoát khỏi vòng vây...

Vì một dịp tình cờ tôi có đến Chuà Ông để ngắm nghiá một cách say sưa các chi tiết cuả con Rồng Phan Thiết, dầu không bao giờ tôi đủ can đãm đến quá gần vì sợ. Mình Rồng có cài hằng ngàn chiếc "vẩy" óng ánh. Một dịp nọ, có một trẻ lượm được một chiếc vẫy Rồng, tôi và các bạn tò mò đến ngắm nghiá. Mỗi vẩy Rồng là một miếng gương tròn (cở gương thời ấy dành cho các phụ nữ mang theo để soi mặt). Mặt sau của các vẩy gương Rồng ấy có in tên của ân nhân bảo trợ. Đầu Rồng màu trắng, với nét thanh cao, hùng vĩ, có hai chiếc sừng cong cong khúc khỹu. Mủi Rồng nở nang tròn lớn như sẵn sàng để khè ra lửa, mỗi bên mủi có các râu cong cong. Rồng có chiếc lưỡi đỏ thè dài, với hàng râu cằm toả đều xuống mé dưới miệng, vừa xinh đẹp vừa mang vẻ huyền thoại kỳ bí của một linh vật khiến chúng tôi sờ sợ né xa, không bao giờ "đụng" vào ...

Cảnh tượng múa Rồng là cảnh của một linh vật đang đạp mây uốn mình quây lượn theo sự thu hút của trái Châu (tức là một bảo vật). Tục truyền khi nào có các linh vật Long, Lân. Qui, Phụng xuất hiện thì muôn dân sẽ hưỡng được cảnh thanh bình hoan lạc. Trong tâm niệm người dân, cảnh Rồng múa như mang được hình ảnh thiêng liêng cao cả về gần lại để chiếu cố những khó khăn của thực tế cuộc sống. Đầu rồng của rồng Thanh Long Phan Thiết do những người làm muối Phan Thiết làm ra. Con rồng này xuất hiện lần đầu trong Lễ hội Nghinh ông quan thánh năm 1918, dài 49 mét, phần đầu dài 1.7 mét. Thân rồng có 15 khúc, là con rồng lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Mỗi lần múa Rồng phải cần đến hơn 150 người chia thành 3 kíp múa thay nhau. Mỗi khi Rồng muá, tôi vẫn còn nhớ đầu Rồng khá nặng cần phải có 3 thanh niên cùng gồng vác, một người lực lưỡng mang chịu cây trụ chánh ở giửa, hai người kia mang 2 cây xéo chịu 2 bên. Mình Rồng là loại vải rất dầy vừa chắc vừa mềm mại cho dể múa, màu sắc lộng lẫy nhưng không diêm duá. Cách đều nhau giữa các khúc nối mềm mại bằng vải bố là 15 khúc thân cứng cáp cho các thanh niên mang đội vào vai để lượn múa. Mỗi khúc thân Rồng có 1 sườn bằng nan mây, vừa vặn cho 1 người thanh niên nai nịt chịu ở lưng, vai và đai ở hông. Cứ vài phút người này mõi lại có người khác vào thay thế. Lưng Rồng có dẩy Vi lỡm chỡm chạy dài từ đầu cho đến khúc đuôi. Cuối các chân Rồng với những móng vuốt nhọn là hình vẽ những cụm mây. Khúc đuôi cuối cùng của Rồng là những khiá vi nhọn liả chiả, khá cao, lắc lư khi múa, cũng có một cây trụ chính của đuôi do một người nai nịt ở hông và cầm chịu ở tay, và lại thêm 2 dây kéo bởi 2 người khác ở hai bên để múa lượn.

Những ngày tôi còn bé theo xem hội hè đình đám, nghe tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..." của đội Rồng Phan Thiết hoặc tiếng trống dòn dả "Cắc cắc tùng..." của các đội Lân chùa Ông hoặc các đội Lân Mặt Xẹp (với tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm tùm...tùng tùng tùng, tùm tùm..." thật đặc biệt và kỳ dị), hay các đội Lân Sài Gòn (có leo cây trụ sắt thật cao và có muá võ) được mời về dự lể Thỉnh Ông, chân tay tôi bổng trở nên bủn rủn, tim hồi hộp, vì bị thu hút mãnh liệt bởi các âm thanh kỳ diệu ấy ... Sau này nghe nói ở thành phố nỗi tiếng nào như New York hoặc Singapore có các con Rồng rất hay và đẹp, tôi đều chú ý xem các hình ảnh để so sánh với con Rồng Phan Thiết. Và vì chưa tìm được các đối tượng đáng kể để mà so sánh nên lòng vẫn cứ còn cưu mang hình ảnh xa xưa...

Khi tôi còn bé, ba tôi hay đi lưu diễn cùng với đoàn văn nghệ cãi lương tỉnh Bình Thuận nên ông được biết đến qua tên hiệu Phan Sinh hơn là tên thật. Vào dạo đoàn về trình diễn tại rạp Moderne, tôi bé tí teo, quá bé để nhớ nhiều; chỉ loáng thoáng trong ký ức cảnh rạp hát mờ mờ ảo ảo, ba đóng vai Hoàng Tử Lưng Gù và một vài cảnh đánh gươm mà tôi rất thích. Đến lúc ba bị gian thần đâm một nhát gươm trên sân khấu, tôi khóc lóc gào rên "Ba ơi, ba..." làm cho ai cũng bật cười. Tiệm may Phan Sinh tại Phan Thiết của ba tôi sát vách với nhà hàng nỗi tiếng Nam Thạnh Lầu, lúc nào cũng nhộn nhịp với hơn 10 thợ may nam nữ. Cảnh bên phố có những buổi chiều với tia nắng vàng nghiêng nghiêng nhẹ nhàng êm dịu như dòng đời, khác hẳn với những thời khẩn trương ngày Tây về ruồng bố bắt người đi lính như dạo anh chị tôi chào đời mấy năm trước đó.

Những năm sau ngày bầu cử Tổng Thống Việt Nam đầu tiên quê tôi thật thanh bình êm ả làm sao bên mái gia đình thân thương. Tôi nhớ vào khoảng năm 1963 tỉnh Bình Thuận tổ chức diễn tuồng "Hoàng Hoa Thám", có ca nhạc và cả nhạc cảnh "Hòn Vọng Phu", để gây quỷ cứu trợ nạn lụt miền Trung. Đây là một tuồng công phu với sự đóng góp của nhiều người con Bình Thuận. Trong kịch bản Hoàng Hoa Thám do ông Trần Thiện Hải cha của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác, cha tôi đóng vai Đề Thám tức Hoàng Hoa Thám, phấn đấu chống Pháp trong hoàn cảnh bi thương nhất. Chú Tư Hí, chủ tiệm hớt tóc trước rạp Moderne, là 1 quái kiệt, chọc cười nghiêng ngã. Ông thủ vai anh lái dê, với mấy câu than thân trách phận về tật "dê" cố hữu khiến ai cũng cười lăn. Chú Mai Hiếu là một tài tử xi-nê bô trai mũi cao, to lớn, đóng vai quan toàn quyền Pháp, kẽ thù dân tộc. Chú Châu (cảnh sát) đóng vai Trần Quang Ngọc ngực mang thẻ bài, là kẽ bồi Tây chỉ điểm cho giặc, cùng với các chú Thạnh, Võ, Tư Kiên, và nhiều diễn viên khác mà đến nay tôi không thể nào nhớ hết. Cảnh bi hùng nhất là cảnh xử trảm anh hùng Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí Việt Quốc (VNQDĐ). Để làm chiếc đầu người, tôi còn nhớ ba tôi dùng 1 quả đu đủ xanh cạo khắc mặt mủi giống nét người. Giưã ánh đèn sân khấu mờ ảo, chiếc đầu của anh hùng Nguyễn Thái Học rơi rụng trên đoạn đầu đài, vừa hào hùng vừa bi thãm không khác nào số mệnh đau thương chung của dân tộc Việt...Ngoài ra còn có 1 đội vũ công từ Sài Gòn về tham gia. Thuở đó, bên cạnh trường Tiểu Học Đức Nghiả gần nhà chị Ngô Đình Minh Khanh có 1 bải cát lún mà chúng tôi thường ra thả diều. Bải cát đó là nơi tập dợt của đội vũ, vì màn vũ có những cảnh nhảy cao và nâng người quá đầu, nên có té xuống cát lún thì cũng đở đau...

Nhà tôi hầu như lúc nào cũng có tiếng cười tiếng ca. Có lúc các nghệ sĩ tề tựu quây quần, nguyên một dàn đờn gồm Kìm, Xến, Tỳ Bà, Guitar, Tranh cùng hòa tấu. Tiếng đàn đủ loại rượt bắt nhau thoăn thoát, vây lượn giữa tiếng ngân tiếng ca mùi mẫn của chị Tám, chú Võ, thật là 1 cảnh tượng hạnh phúc đáng yêu mà tôi không thể nào quên. Chú Năm (em chú Tư Sanh chích thuốc) từ Sài Gòn về, là một tay đờn guitar điệu nghệ vững vàng, vừa đệm đờn vừa nhịp tiếng song lang các bài Sương Chiều Tú Anh thật mùi, với các âm hưỡng đầy tình người. Những dịp đó, người qua đường tụ tập thật đông trước nhà tôi ở đường Phan Đình Phùng, với hàng rào hai bên cổng phủ đầy hoa hoàng anh vàng thắm, để vui lây trong cuộc say mê của nhóm nghệ sĩ trước sân nhà tôi. Trong những cuộc cầm ca mê hoặc đó, các giọng hát nam nữ tranh đua nhau trổ tài giửa không khí hào hứng khích lệ của các nghệ sĩ đánh đàn, vẽ nên hình ảnh sinh hoạt văn nghệ tiềm tàng của người dân Bình Thuận...

Những ngày tháng ấy, tôi, một cậu bé, chỉ biết mang giử những hình ảnh thân thương đó theo cạnh cuộc đời không bao giờ tưởng tượng được sẽ có dịp bước ra sân khấu để sống lại những hình ảnh dấu yêu ấy mà các cha chú đã đi qua. Rồi cơ duyên đưa đẩy, năm 1995 Hội Thân Hữu Bình Thuận tại Nam Cali tổ chức Đêm Nhạc Hội Bình Thuận 20 Năm Viễn Xứ. Lúc ấy tôi và các anh chị chú bác, những người con Bình Thuận, mới có dịp trình bày tình yêu quê hương mình qua các tiết mục. Và tôi đã dựng lại nhạc cảnh Tiếng Dân Chài cùng với các diễn viên Nguyễn Tư, Tăng Thiện Thanh, Lê Hữu Đức, Nguyễn Văn Hòang, Võ Phương Quang Thụy, Nguyễn Thị Mỹ Hằng và Đinh Thị Thiệp như mình vẫn còn mang lại những hình ảnh xưa về để yêu thương quê cũ. Hạnh phúc làm sao khi được các chú các bác đồng hương tỏ lời yêu thích, nhưng sung sướng nhất đối với tôi là có sự hiện diện của Ba trong hàng ghế đầu ngồi xem say mê thích thú.

Quê tôi chỉ cách Sài Gòn 200 cây số. Nếu tuổi ấu thơ của tôi có thể ví như mực nước sông Mường Giang bình dị, thì tuổi lớn lên của tôi phải ví như những đợt sóng Thái Bình Dương ồ ạt. Tôi được gửi vào Sài Gòn học theo chân người chị kế vào Sài Gòn học - chị Minh, mà sau này mấy ông thư ký trong xóm kém chử nghiả làm giấy tờ viết lộn tên của chị, kêu theo thứ thành tên "Năm", sau này được đổi lại thành Nam cho dể nghe. Năm thi trung học, chị Nam đậu hạng Bình, được nhận vào trường nữ Gia Long ỡ Sài Gòn. Chị có khiếu học sinh ngử, có nét xinh đẹp và bản chất thông minh nên thường có nhiều thanh niên theo đuổi. Gia đình muốn tôi cùng vô Sài Gòn học với chị để có chị có em cho vui. Người Pháp có nói "Đi là chết trong lòng một ít". Làm sao tôi quên được những đêm ngồi khóc thấm thía bên một góc tối sân thượng nhà Dì Hai chỉ vì một anh nghệ sỉ lãng mạng nào đó ỡ cuối hẻm 197A Lê Văn Duyệt đã thổi những tiếng sáo trầm uẩn não nề như cắt xé lòng kẽ xa nhà ra từng mãnh vụn. Và nhất là những ngày chuẩn bị về quê, từ rựng sáng chị em tôi thức dậy thật sớm để đón xe xích lô máy nổ bình bịch, náo nức ra bến xe đò để về Phan Thiết nghĩ Tết. Tuy nhớ nhà thương quê nhưng cái quyến rũ, cái náo nhiệt của Sài Gòn cũng khó mà cưỡng lại. Nếp sống nhộn nhịp, phồn hoa và táo bạo ấy tấn công tâm hồn trai trẽ vụng dại trong tôi như một cơn bão lốc. Hằng ngày học cùng lớp với những tên bạn lúc nào cũng nhai chewing gum, mặc quần jeans, đi Vespa, sáng sáng vô lớp chỉ kể chuyện đi "boum" (tức đi party) thật là khác xa với những người bạn cần mẫn chất phát quê nhà hằng ngày gắng đạp ngược gió những chiếc xe đạp củ kỹ từ Phú Long qua sỡ muối lên Phan Thiết học, hoặc có kẽ đi miệt mài hằng mấy cây số mới đến trường - và thông thường hay bỏ học vào những năm Đệ Tứ, Đệ Tam để đi lấy vợ hoặc đi cảnh sát. Rời xa những người bạn thân thương nối khố với những nụ cười dể dải hồn nhiên, vào Sài Gòn ngồi chung lớp với các cậu thanh niên chuyên ăn chơi thưỡng ngoạn nhạc ngoại quốc thường hay tán gẩu về Sylvie Vartan, Cliff Richard, Elvis Presley và ban The Beatles quả là một sự thay đổi đầy trái ngược. Những tháng đầu tiên vào trọ học Sài Gòn hồn tôi đầy những trống vắng hoang vu làm sao vì nhớ nhà nhớ bạn giữa một thế giới náo nhiệt chung quanh.

Mỗi chuyến về thăm quê Phan Thiết như vậy là để tìm về với những ấm cúng thân yêu của gia đình với gỏi cá mai, cơm gà, mì quảng với những câu chuyện vui và hấp dẫn do cha tôi kể mà mọi người chúng tôi náo nức muốn nghe. Bao năm trường lớn lên, ngoài tính chất nghệ sĩ được hấp thụ từ cha, chúng tôi được Ba kể cho nghe không biết là bao nhiêu chuyện hay. Từ những chuyện đường rừng lạ lùng kỳ hoặc, chuyện ma Bình Thuận kinh dị, những mẩu chuyện Ngàn Lẻ Một Đêm kỳ thú của vương quốc Ba Tư, những chuyện tếu và ý nhị như loạt chuyện Thi Nói Láo đăng trên báo thời bấy giờ, những mẫu chuyện sâu sắc từ quyển "Để Trỡ Thành Một Vĩ Nhân", đến những chuyện Tam Quốc Chí nêu cao cái hay đẹp trong thuật xử thế của người xưa, chúng tôi đã học hỏi không biết bao nhiêu điều qua những mẩu chuyện hấp dẫn từ cha tôi. Chị Nam (tức Hoàng Minh) là một người giỏi về văn thơ, lúc nào cũng yêu đời, hay kể các chuyện vui Sài Gòn, nhất là chuyện các cô nữ sinh Gia Long tinh nghịch, với lối pha trò và điệu bộ rất dí dỏm. Các em Yến và Hà luôn lăng xăng quấn quít bên các anh chị từ xa về để góp tiếng cươì chung. Mỗi dịp các con về, mẹ tôi không bao giờ quên nấu những nồi canh chua thật ngon với đủ thứ cá tươi, giá, rau thơm, ngò, me, bạc hà, và nước cà chua vàng óng ánh đặc sản của Phan Thiết mà chúng tôi không còn được thưỡng thức khi vào Sài Gòn. Hình ảnh nồi canh chua vì vậy in khắc trong trí tôi trỡ thành biểu tượng cho sự hi sinh của người mẹ nói chung và người mẹ Phan Thiết thân yêu của chúng tôi nói riêng.

Người mẹ ấy trước kia là một thiếu nử xinh xắn tại Phú Long, chị cả của một đàn em đông, chỉ được học xong lớp Ba. Vì thuỡ mới lớn nghèo khổ, mẹ phải phụ gia đình làm bánh bông lan bán nuôi đám em nhỏ dại. Bà gặp Ba tôi cũng là người anh cả trong một gia đình đông con tại Phan Rí, cũng không kém phần khổ cực. Ngày ba má tôi lấy nhau, cả hai gia đình đều khóc vì mất đi người phụ lo cho hai bầy em hai bên. Vì không một mảy may vốn liếng gì để làm ăn, ba tôi phải trôi dạt sang tận bên Miên (Cam Bốt) theo theo bác Tư Sào ba anh Nguyễn Văn Cao để học nghề may. (Sau này bác Tư Sào về lại Phan Thiết mỡ tiệm cầm đồ Phước Lợi). Trong cảnh bần cùng khó nhọc đó, ba tôi cuối cùng dành dụm được một ít tiền về lại Phan Thiết để bắt đầu một cuộc đời mới. Lúc hai chị em tôi trọ học ỡ Sài Gòn, mỗi lần có người vào Sài Gòn mẹ tôi thường hay gửi 1 nồi cá nục kho tặng Dì Hai, kèm cả một bầu trời thương yêu trong lá thư của mẹ. Thư của mẹ gửi chúng tôi có nét chữ nguệch ngoạc của bậc tiểu học nhưng đầy ý nghỉa của một người hiểu đời. Bà mẹ ấy không bao giờ quên quá khứ khổ nhọc và đã cố gắng dành hết những hạnh phúc cho các đứa con.

Mẹ tôi rất khéo về buôn bán với lối giao tình thân mật với các khách hàng của bà. Chỉ một vài năm bán hàng trong chợ, bà đã mở rộng các gian hàng theo số thương vụ gia tăng. Chiều chiều mẹ tôi mua chè đậu xanh cho chúng tôi ăn, đến mùa mãng cầu, xoài, hay măng cụt mẹ tận tụy đem về cùng ăn với đám con. Có lẽ không gì đáng nhớ cho bằng một điều đặc biệt là mỗi khi đi đâu về nhà mẹ tôi đều mang về một chút quà cho con, dầu chỉ là 1 trái ổi, trái quít hay chỉ là một củ khoai. Tôi thích Sài Gòn với nhịp đập của cuộc sống mãnh liệt, mỹ lệ với các thời trang hấp dẫn, và vui tươi với nhiều mục giải trí. Nhưng tôi thương yêu thành phố Phan Thiết bình dị hiền hoà quê tôi bỡi đó là đất của những kỹ niệm thân thương, của những rung động và nhận thức đầu đời.

Mùa Xuân, cha tôi và những hoa mai nỡ rộ ngày Mồng Một Tết. Ôi những hình ảnh thật thân yêu. Có những ký ức đẹp nào đó trong quảng đời cứ ám ảnh mê mãi người ta suốt chuyến xe trần gian như những viên lưu ly hay những gì trân quý nhất từng hiện hữu trên cõi đời này mà ta cứ muốn tìm bắt lại, dẫu biết rằng tất cả đã tan biến thành bọt bèo khói mây từ sau cuộc đổi đời 1975. Chuyến xe cuộc đời ấy đã trôi dạt về một vùng trời mới rất xa lạ. Người đi để tiếp tục sống còn phải đành cắt đứt một giây chuông, đoạn lìa với dĩ vãng. Người lữ hành mắt đang nhìn về phía trước hun hút gió lộng, nhưng hồn mình thì cứ mãi ngóng trông dõi tìm về hướng quãng sau lưng tít mờ xa, như cố ghi khắc lại những gì trân quý nhất đã lưu lại ý nghỉa mình từng hiện hữu đời này.

Cát Biển

Saturday, December 20, 2008

Lời Cho Nhau (Nhạc)

0 comments

Lời Cho Nhau

thơ Cát Biển
nhạc Thiên Anh
hòa âm Đặng Vương Quân
ca sĩ Tâm Thư


Có một đêm tình say tiếng gọi
Có một ngày bạn với hư không
Có trời xưa ôm đôi cánh mộng
Có âm thầm hồ vắng riêng ta

Có đợi chờ đầy trong hơi thở
Có ngỡ ngàng lời ngọt phôi pha
Có nhiều khuya nhớ nhung dẫn dắt
Và một chiều ánh mắt trông xa

Có rừng thu cây khoe màu lá
Có thông già lạc gió tình ca
Có mù lòa tim đo biển cả
Có nghẹn ngào hỏi lại tình ta

Có trần gian đẹp muôn sắc tỏa
Có khô cằn ngày lũ lượt qua
Có tầm tay tìm không đành dứt
Có trở mình nhật thực hôn mê

Lòng người như tinh tú
Tình người dâng mây núi
Thổi hồn cơn giông bão
Chảy mãi một giòng sông
Thổi hồn cơn gió lộng
Chảy mãi một giòng sông


Thursday, December 4, 2008

Thành Phố Nào Vương Bước Chân Ta

0 comments
Thành Phố Nào Vương Bước Chân Ta

Thành phố nào vàng tia nắng lạ
Đi giữa Đông mà tưởng như còn hạ
Những tiếng cười ta quên đời vất vã
Về chở theo hồn vương vấn bao la

Thành phố nào một thời dong ruỗi
Những nắng những mưa ngày bước vào đời
Từng thổn thức giọt tình còn xanh tuổi
Theo nắng miền Tây đọng những chơi vơi

Trời bao mùa bão giăng gió lộng
Thành phố em còn đầy duyên sức sống
Khách ngỡ ngàng tìm lại tiếng thân yêu
Tìm nhớ tìm thương cho tim mềm yếu

Thành phố nào rất thân mà lạ
Thân những ân tình lạ bước chân qua
Từ thoáng xa ngắm lại ánh trăng ngà
Tay vẫy biệt nghe lời hoang biển cả

Cát Biển
12-03-2008

Tuesday, December 2, 2008

Đỉnh Mây Hồng (Nhạc)

0 comments

Đỉnh Mây Hồng

thơ Cát Biển
nhạc Tú Minh
hòa âm Duy Cường
Ca sĩ Vĩnh Thanh Thảo

Chiều ngát trên triền cao
Sương lũng mờ lưng đồi
Hoang vu miền đất vắng
Nghe tình về mênh mông

Như sương vây núi hồng
Như chuông vọng tầng không
Như chim reo hót mừng
Như sóng đùa trên sông

Nghe bay xa cõi lòng
Nghe khao khát mong chờ
Nghe bao la cánh đồng
Nghe gió lùa ngàn thông

Người qua bao bờ bến
Tim rướm những vệt sâu
Bao giây phút thần tiên
Cùng theo lá thu sầu

Tim ơi men cháy nồng
Đợi chi qua mùa đông
Mai trôi xa bến giòng
Buốt đau miền chờ mong

Nắng bên kia bờ bến
Bóng yêu ai chờ đón
Dệt giấc mộng huyền mơ
Hương gấm ngọc tằm tơ

Sương reo thung lũng hồng
Hương xua vang ngát tình
Chân vương mềm chiếc lá
Nhớ nhung về mênh mông

Cát Biển

Monday, December 1, 2008

Chuyện Tình Năm 2008

0 comments
- Hello Mây...
- Hi anh Nam
- Bài ca hôm qua M ca trên Paltalk hay quá tối ngủ anh còn nhớ đó
- Lại nói sạo lấy lòng tôi phải không...xin lỗi đây không dễ bị dụ khị đâu nhá.
- Thiệt mà ...chắc nhiều tên con trai nhảy xuống sông vì em lắm phải không Mây?
- Hihihi...dạ có nhưng họ nhảy xuống đúng nơi chổ cạn, xong bước lên bờ đi tỉnh queo.
- Nè nói thiệt Mây nhé ..không đùa nhé...Mây có biết là anh nhớ Mây nhiều lắm không?
- Anh đừng lộn xộn...tôi không hề tưởng nhớ gì anh chút nào cả
- Sao em tàn nhẩn vậy?
- Xí...hình như bài ca này quen quen tôi có nghe qua ở chợ Cầu Ông Lảnh
- Em ơi em càng làm anh đau anh lại càng nhớ em nhiều
- Trời ơi...giống nhạc quê hương quá...nghe sến quá...
- Cho anh hun 1 cái nhé
- Ê đừng giở trò nhé...coi chừng ăn guốc đấy!
- Ông xếp kêu anh...Anh phải làm việc tiếp...lúc khác nhé
- Đểu vừa... đồ phải gió...Bye!
- Bye...Hôn em :-)))
- Xí ...

. . .

- Hi Mây...Em đang chat với ai hở
- Ủa ..lại gặp. Nobody! ...chính xác: nobody đáng để chat
- Vậy bây giờ em gặp người xứng đáng rồi
- Oan gia thì đúng hơn
- Cẩn thận nhá...coi chừng hối hân...vì em sẽ yêu anh rất nhiều
- Dạ Tết Congo chuyện đó sẽ xãy ra
- Don't be so sure!
- Đã nói rồi có ma mới yêu cái bản mặt lì của anh
- Ủa ...bây giờ thật sự muốn biết mặt anh rồi hở ...coi chừng nhé...gặp thì sẽ thương đó...mà sẽ thương thật nhiều đó..à hỏi nè..bài thơ em post lên mạng là vì nhung nhớ anh có phải không em yêu của anh?
- Lịch sự tí nhé ...Trên đời này hết đàn ông tôi vẫn chưa nghỉ tới anh...đừng sạo
- Ai nói anh sạo chứ...anh yêu em ngay từ lần đầu gặp em trên mạng mà
- Giọng đểu ghê...sở khanh...gớm
- Anh phải làm việc...Bye em nhé...C U Later!
- Bye!

. . .

- Hi Mây :-)...Khỏe không ...có gì vui kể nghe đi
- Chào anh Nam...Không vui
- Oh...sao vậy ?
- Đang có chuyện buồn
- Rắc rối lắm không ?
- Chuyện buồn trong gia đình ...Không muốn nói...anh làm sao hiểu được chứ
- Thử nói đi...anh sẽ hiểu mà
- Má em vừa bị stroke bất tỉnh ...lần này là lần thứ ba...cả nhà ai cũng buồn và lo
- Vậy có muốn anh chun qua dây internet đến ôm em một chút không
- I wish you could do that
- Anh không biết làm gì hơn để giúp em...thôi ôm nhẹ 1 tí nhé!
- Ôm ở đâu
- Ôm vai
- Okay
- Mong em vượt qua khó khăn và lại vui cười nhé
- Thôi ...đủ rồi...Nè...
- Gì ?
- Thank you!
- u r welcome!
- Bye
- Bye...G'9
- G' Nite!

. . .

- Cám ơn em tối hôm qua đã kể những chuyện thuở nhỏ nhiều kỷ niệm hay...tiếc là nữa chừng bị gián đọan...anh muốn nghe tiếp
- Chuyện của em dài lắm...chắc em phải kể bằng tiểu thuyết...chờ 20 năm đi sẽ viết xong
- Bài thơ mới của em rất dễ thương...hình như em nói đến anh...có lời trách nhẹ...nhưng anh thích
- Viết vu vơ... trúng ai nấy chịu
- Cám ơn đã nghỉ và nhớ đến anh nhé
- Bày đặt...biết có phải anh không mà cám ơn chứ
- Em chưa ngủ sao...khuya rồi
- Em ngủ không được nên vô máy làm thêm 1 ít việc trong sở
- Cố gắng dỗ giấc ngủ và đừng thức khuya quá nghen
- Hỏi nè...
- Hỏi đi
- Có muốn ca 1 bản cho em nghe không?
- Vậy anh ca xong em cũng sẽ ca cho anh nghe với nhé
- Nope!
- Ủa ...vậy không công bằng...sao em lại chỉ muốn nghe anh ca...anh ca ẹ thấy mồ
- But I want to hear your voice, please...
- Okay...anh phải đi tìm mic ...em có mang headset chứ?
- Có rồi
- Muốn nghe bài gì ?
- Bản nhạc nào cũng được...bản nào mà anh thích nhất
- Tình Khúc Thứ Nhất nhé
- Great! Thanks!

. . .

- Hi em
- Chào anh
- Em đã đặt xong vé máy bay rồi chứ
- Xong rồi...thứ Bảy em sẽ gặp anh tại Washington DC nhé
- Anh sẽ đón em ở phi trường...sau đó mình đi Maryland chơi...rồi về Virginia nhé
- Sure...hẹn gặp anh
- Hẹn gặp Mây nhé
- Bye
- Bye!

*
(email)

Anh Nam mến,
Rất tiếc em không thể sang gặp anh cuối tuần này được. Mẹ em đã vĩnh viễn ra đi. Cả nhà đang lo đám ma. Riêng em, em bị ngất xỉu trưa nay, phải đưa đi nhà thương gấp. Tình trạng sức khỏe em bỗng nhiên xuống dốc kinh khủng khiến em thật lo ngại. Mấy tháng nay có nhiều dấu hiệu không tốt. Chuyện buồn trong gia đình lại càng khiến em không bình an. Em rất mong được mau chóng bình phục để làm 1 số việc còn dở dang. Em cám ơn anh đã quan tâm và lo lắng cho em. Em có nhiều bạn thân ở đây có thể giúp em nếu em cần đến họ. Anh cho em gửi lời thăm đến gia đình chị của anh nhé.
Hi vọng một ngày gần đây sẽ gặp đuợc mọi người.
em,
Mây

. . .
(email)

Em Mây,
Rất buồn với niềm mất mát to lớn của em và gia đình. Anh xin thành tâm cầu nguyện hương linh bác gái được yên nghỉ cõi vĩnh hằng. Anh cũng rất tiếc em đã không sang thăm anh và gia đình bà chị của anh cuối tuần này. Mọi người mong đợi nhưng em đã không đến. Chị Hương thấy anh buồn nên đã ra bờ hồ ngồi cùng anh, và kể chuyện cho anh vui. Bờ hồ chiều hôm qua bỗng dưng có hơi nước đầy mặt hồ khiến lòng anh thấy buồn man mác. Anh ngồi mà ngỡ chừng như có tiếng chân ai bước đến chổ hẹn, đợi đến khuya vẫn không thấy người đến.
Em ạ, sức khỏe là điều quan trọng nhất của em lúc này, em hãy cố gắng tịnh dưởng và dỗ giấc ngủ cho đầy đủ nhé.Anh không biết gì hơn là gửi em một lòng trìu mến và cầu nguyện cho em sớm bình phục. Một lần nữa cầu nguyện bình an đến với em.
Anh,
Nam

. . .

Anh Nam,Từ sáng tới giờ mới có thì giờ liên lạc anh đây. Em đang gặp rất nhiều chuyện phải giải quyết trong gia đình. Hôm nay ngoài trời đang mưa, em cũng đang sụt sùi vì cảm lạnh. Nước mũi cứ chảy ròng ròng. Em cám ơn anh đã gửi tặng bình hoa thật đẹp ngày Sinh Nhật của em. Em gọi điện thoại nhưng đường giây bị bận. Em sẽ email và gọi anh sau nhé.
M

. . .

Em Mây,
You are always welcome, em!
Being a friend is not just sharing a joke, a conversation, a cup of coffee or a funny story...
It means sharing an honest and true part of yourself...
Em hãy cố gắng giử gìn sức khỏe nhé.
Nam

. . .

Anh Nam,
Hôm nay đi khám bác sĩ xong, ra về em không biết phải nói thế nào với anh đây. Mọi chuyện bất ngờ quá. Có những lúc lòng mình lạnh lùng dửng dưng thì bao nhiêu may mắn nhộn nhịp cùng đến. Có những lúc mình tưởng cuộc đời rất đẹp thì không ngờ bao nhiêu điều bất hạnh đang chờ sẳn. Em theo lời chỉ dẩn của bác sỉ quên đi bao nhiêu âu lo về triệu chứng bệnh ung thư quái ác đã đến với cơ thể em. Em cứ bình thản đón nhận những tia ánh bình minh từng buổi sáng và bóng đêm huyền diệu nhẹ tỏa xuống mỗi hoàng hôn.
Em không muốn anh buồn và lo cho em. Em cảm tạ sự tha thiết quan tâm của anh mà đã giúp em có điểm tựa tâm hồn trong hoàn cảnh khó khăn vì bệnh tình của em. Đã có ngày ở Việt Nam em thật là tuyệt vọng nhìn thấy cha mình bị đi tù và bị chết. Nước mắt em đầm đìa nhìn cuộc đời với nỗi chán chường. Rồi cơ duyên được sang Hoa Kỳ định cư tị nạn. Rồi tốt nghiệp Đại Học có công việc làm tốt đẹp, em cứ tưởng tâm hồn mình sẽ yên ổn với một tương lai thật đẹp. Có ngờ đâu những khó khăn mỗi lúc gia tăng tràn ngập như lớp mây đen đang vây vần bao phủ hồn em. Giờ đây em chỉ biết đón nhận cuộc đời từng ngày. Mỗi buổi sáng thức dậy biết rằng mình còn đang sống.
Anh Nam ạ, bỗng dưng em muốn cảm tạ cuộc đời vì em sung sướng trong tình cảm bao dung của anh, người đã chia sẻ những vui buồn với em mỗi ngày. Những sự quan tâm tha thiết chân thành từ hồn anh làm cho em mãn nguyện là cuộc đời này có ý nghỉa để em trân quý từng khoảnh khắc trước mặt. Những ước mơ đầy cao vọng của những ngày tháng trước, giờ đây đối với em thật xa vời. Trước mắt em giờ chỉ còn niềm tin và tình yêu là trân quý nhất. Em đang đếm từng ngày mình còn bước đi trên mặt đất.
Anh ạ, chúng ta đều là những khách ngao du rong chơi trên tinh cầu này trong một thời gian hạn định. Không ai bước ra khỏi cuộc đời này nguyên vẹn cả. Tuy là có bao nhiêu buồn vui mãn nguyện và thất vọng cùng quay quyện, em chỉ muốn nhìn lại quảng đường đã đi qua với niềm vui nhỏ bé là em đã có anh với bàn tay ấm cúng xoa dịu hồn em. Cám ơn nhiều anh đã đến với em, anh nhé.
Mây

. . .

Nhật Ký của Nam - Ngày...tháng... năm 2008

Không ngờ tai nạn xe đã mang đi người anh yêu, chứ không phải căn bệnh ung thư quái ác kia. Những ước mơ bình dị nhất của anh cuối cùng rồi cũng không đến...Anh muốn cùng em đi bộ những bước thật nhẹ nhàng ở công viên dưới làn nắng vàng mềm mại. Anh muốn buổi tối về sau một ngày làm việc chúng ta cùng ra bờ hồ ngắm ánh mặt trời lặn ở phương tây nơi mà bóng hoàng hôn sẽ phủ nhẹ trên vai em lúc anh hôn em trên mái tóc. Anh muốn nghe lời em kể chuyện về những ngày tuổi thơ đầy hạnh phúc hay những bất hạnh của cuộc đời và những tiếng cười tràn đầy nghị lực đã giúp em vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Anh sẽ kể về ba mẹ anh và những bà chị, và tuổi thơ tràn đầy hạnh phúc của anh, và cả những buồn khổ từ dạo 1975, cùng với ước vọng khao khát trong anh cho những gì mình có thể thành tựu để lưu lại với cuộc đời. Những điều này sẽ không bao giờ đến nữa. Mây yêu, chúc em an giấc mãi mãi nơi thật bình yên em nhé.
Anh của em,
Nam.

*

Lời cuối của người viết:
Đây là một trong những câu chuyện đang xảy ra quanh chúng ta. Có cả những ngô nghê, những thâm trầm, những rủi ro và bóng dáng của hạnh phúc. Nếu không có mạng Internet chắc hẳn vũ trụ vẫn xoay vần theo lẻ tự nhiên của tạo hóa. Cuộc đời sẽ vẫn có những hỉ, nộ, ái, ố, sanh, lão, bệnh, tử...và dân tộc Việt vẫn phải trãi qua những bi thương, chiến tranh, áp bức, bất công, thất vọng, mãn nguyện, sung sướng, hảnh diện...dĩ nhiên có cả niềm hạnh phúc. Tuy nhiên nhờ Internet, con người đã đến gần với nhau hơn, để chia sẻ những vui buồn, cay đắng, luôn cả bản tính kiêu hùng bất khuất của dân tộc Việt để cùng nhìn lại cuộc đời với ít nhiều trân quý. Cám ơn thật nhiều những tác giả đã đóng góp trên mục VVNM cho các con tim và dòng máu đỏ đến gần với nhau trong cùng nhịp đập.

Cát Biển

Visitors Count

SEO Services

About Me

My email: sn68pbc@yahoo.com -- My Homepage: www.catbien.com