Saturday, June 27, 2009

Nhánh Sông Phiền Muộn (Nhạc)

4 comments
Nhánh Sông Phiền Muộn

Thơ : Cát Biển
Nhạc: Nguyễn Thiện Doãn
Ca sĩ: Ý Lan

Mặt trời hồng ngủ ngang đồi núi
Bầy chim non ngưng hót trên cây
Người ghé ta rừng không đợi tuổi
Người đi xa gió kéo giăng mây

Đời muộn phiền giòng sông rẽ nhánh
Và sương mai thấm ướt tim khô
Vàng ngất ngây rừng im nhịp thở
Vùng dư âm khép tiếng cung đàn

Hãy cứ buông tay chiếc lá vàng
Hãy tiễn đưa đời khúc ly tan
Hãy cố quên giây phút ngỡ ngàng
Chớ luyến lưu tình đã phai tàn

Hãy ngắt đóa sầu đau năm tháng
(Ai) nghe vụn vỡ ánh trăng vàng

Người bên kia bờ sông xa thẳm
Mãi nhớ người ta chờ tay ấm
Mơ tiếng cười ru hồn bừng say
Mãi nhớ người nhánh sầu chia sông

Cát Biển

Wednesday, June 17, 2009

Qua Những Mù Sương

1 comments
Qua Những Mù Sương

Trên bức tường thành phố
Cơn mê dài ảo ảnh
Mưa thấm màu khung gỗ
Gió trời Đông thoáng lạnh

Người xưa không về đây
Cho hồn giăng tay gầy
Gọi nhớ vào không gian
Âm vang tình một thuở

Người qua buốt bờ vai
Còn công viên lá đổ
Nắng hoang triền hoa dại
Nghe từng bước nhạt phai

Bàn tay tình mặn nồng
Mắt người vương ngấn lệ
Lời yêu bao chuyện kể
Vầng thái dương khuất bóng

Pha lê hay đam mê
Thoáng vọng tiếng cười xưa
Xoay một vòng dương thế
Sao rơi ngàn thiên thể


Cát Biển

Saturday, June 13, 2009

Tiếng Hát Ngọc Lan

0 comments
Chiều Một Mình Qua Phố (TCS)


Bản Tình Ca Cho Em (Ngô Thụy Miên)


Mưa Trên Biển Vắng (Nhạc Pháp: Je N'oublierais Jamais)


Kaoma - Lambada

Friday, May 29, 2009

Ðêm Nghe Ðoàn Xe Lửa

1 comments

Ðêm Nghe Ðoàn Xe Lửa

Thương chuyến cùng Ba xe lửa khuya
Mường Mán ga đêm chén cháo gà
Ánh mắt dương to nhìn phố lạ
Chợ Bến Thành huyên náo lụa là

Con vẫn cùng Ba những quãng đường
Tay bàn tay nắm ngỏ yêu thương
Những năm bé tí Ba bồng bế
Những chuyến vào thăm trọ học đường

Con nhớ Ba thường dẫn xem phim
Bá Ða đèn quý kẻ đi tìm
Mê mẩn quây quần Ba kể chuyện
Ðường rừng sợ hãi, tếu thêm duyên

Chuyện xử thế nhân, Tam Quốc Chí
Chuyện ngày đi hát, chuyến sang Miên
Cười mãi chuyện dài Thi Nói Láo
Huyền thiên kỳ sử Lẽ Một Ðêm

Giọng ấm lời ca thấm hồn ai
Giải lụa ngân bay điệu ngắn dài
Những ngón tay đàn chiu chắt đuổi
Kìm Tranh Sến Lục tiếng nhặt thai

Ngày đổ Tú Tài con nhớ sâu
Ba ghì vai trẻ bước song đôi
Tâm sự phong trần Ba kể lại
Quảng đời cay đắng kẽ mồ côi

Chuyện của Ba mà như của ai
Bởi đời êm ấm có ngờ đâu
Cha mẹ đắm chìm cơn sử Việt
Hai đàn em dại chớm xanh đầu

Con cả chết đi ngày nhỏ dại
Tây lùng trai tráng bắt vào khu
Mẹ dắt tay bồng con bệnh yếu
Bánh làm mong bán khóc đêm dài

Êm ấm hoà bình tạm ghé chân
Nước nhà thay phế đổi ngôi Quân
Một mái gia đình vang tiếng hát
Những bàn chân đạp máy áo quần

Bơi lội trong tình thương thiết tha
Những lời tâm sự của người cha
Trùm lên sung sướng ngày thi đỗ
Nước mắt hoà chan tận đến nhà

Rồi cảnh quê mình thêm khổ đau
Bom dầy đạn xéo đẩy chia ly
Những cánh tay ôm ngày giã biệt
Người đi tan tác tuổi xuân thì

Khuya nay thức giấc tiếng đoàn xe
Chợt nhớ tàu xưa ấm cháo gà
Lẽ bóng bên trời nơi phố lạ
Có người con vọng nhớ về Cha

Cát Biển


Saturday, May 23, 2009

Mường Giang Lời Tự Tình Của Giòng Sông

1 comments

Giới thiệu tác phẩm “Bình Thuận Quê Hương Một Đời Yêu Dấu
(Ký Sự Lịch Sử) của Mường Giang

Mường Giang Lời Tự Tình Của Giòng Sông

Cát Biển

Nếu nói kỷ niệm một thời, kỷ niệm một đời, thì trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết phải là quãng đời đã hun đúc nuôi dưỡng cho dòng suối lệ của nhà văn nhà thơ nhà biên khảo Mường Giang với dấu ấn không thể nào lẫn lộn.

Nhắc đến địa danh Phan Thiết Bình Thuận người ta không thể quên các nghệ sĩ được nhiều người mến mộ như Trần Thiện Thanh, Thanh Thuý, Anh Khoa, Mỹ Thể, Phương Đại, Tuấn Vũ, Việt Hùng, Thanh Thuỷ, Trang Mỹ Dung, Nguyễn Hữu Thiết (song ca với Ngọc Cẩm), Hồng Phúc (Đài Pháp Á), Huyền Vũ (thể thao bóng tròn), Ngọc Cảnh, Trường Thanh, Thái Tài, Đức Phương, Bảo Phương v.v...

Đất Phan Thành đã đào tạo rất nhiều nhân sĩ, nhưng một trong những người xứng đáng nhất với danh nghĩa người con yêu của Bình Thuận phải nói là Mường Giang. Con yêu, không phải vì người đó lắm tài nhiều đình đám, một ngôi sao hào nhoáng khiến mọi người ngưỡng mộ. Mà con yêu, vì người ấy đã làm vinh danh xứ sở mình. Con yêu, vì người con ấy biết kính thầy thương bạn, quý trọng công lao tiền nhân, và đốt ngọn đuốc nêu sáng gương cứu nước và giữ nước của cha ông nòi giống. Những người tài hoa đến rồi đi biền biệt, nhưng con yêu sẽ ở lại mãi trong lòng của quê hương, và trong lòng những người yêu quý tha thiết về quê hương.

Bút hiệu Mường Giang đã nói lên tất cả. Nhà văn Hồ Đinh chọn tên con sông Mường Giang ở Phan Thiết để gửi gấm những lời viết đẩm lệ yêu dấu của anh về một quê hương đã mất. Giữa những nghệ danh quen thuộc với chúng ta như Cung Trầm Tưởng, Trầm Tử Thiêng, Hàn Mặc Tử khiến người nghe cố suy tư tìm hiểu, cái tên Mường Giang có một âm vang hiền hoà thân mến êm đềm như số phận dòng sông dịu hiền chảy ngang qua tỉnh lỵ.

Như vậy những bài viết của Mường Giang về những món ăn quê hương, về những kỷ niệm vui buồn tình bạn, về tinh hoa phong tục tập quán, về nổi đau của người lính QLVNCH, về trường Phan Bội Châu đầy ân nghĩa ân tình cùng tình cảm man mác thời áo trắng, và lời thơ đầy huyết lệ của Mường Giang, có phải chăng chính là lời tự tình của một giòng sông. Giòng sông ấy là hình ảnh thân quý nhất cho con người Bình Thuận. Giòng sông chảy qua cây cầu mang bao tâm tình thương mến của con người Bình Thuận về con phố từng cưu mang un đúc mình. Giòng sông ru lời của những lá vông bên công viên Tháp Nước. Giòng sông mang đầy những kỷ niệm yêu dấu một thời, một kiếp người. Mường Giang, từ những ngày mới lớn cắp sách đến trường cho tới cả quãng đời lang bạt làm lính và xa quê, bút hiệu ấy đủ nói lên bao nhiêu lời trìu mến dành cho quê hương.

Phan Thiết Bình Thuận với bao thay đổi từ một tỉnh cuối của miền Trung, thành tỉnh đầu của miền Nam, rồi trở lại là miền Trung, với cát gió với Tháp Chàm với Lầu Ông Hoàng với cánh đồng muối trắng thênh thang với mùa Chà rộ cá và biển xanh sóng vỗ dạt dào lại giàu những chân tình. Bình Thuận có vị Tuần Vũ trẻ tuổi tên Ngô Đình Diệm ra nhậm chức lúc mới 24 tuổi. Bình Thuận là thềm vựa cá kèm với tài nguyên muối trắng vô tận khai thác từ nước biển khiến cho kỹ thuật nước mắm ngày một tinh vi, cung cấp toàn quốc. Bình Thuận có Núi Tà Cú từng được vua ngự và phong là kỳ tích. Ngày nay Bình Thuận sản xuất trái Thanh Long nhiều nhất nước.

Người ta đến với những bài biên khảo phong phú và sâu sắc của Mường Giang (tức Hồ Đinh) với nhiều chi tiết hay ho thi vị, và cuối cùng khép trang sách ngậm ngùi với tấm lòng chung thuỷ của người con Bình Thuận tiếc thương cho một quê hương bị cưỡng chiếm. Tình cảm sâu đậm trong văn phong của anh như chiều cao của ngọn tre đứng thẳng, thiết tha như khói mây chiều, và dạt dào như lá thu rơi theo từng ngọn gió.

Sau buổi tổ chức “Đêm Nhạc Hội 20 Năm Viễn Xứ” thành công ngoài sức mong đợi của Hội Thân Hữu Bình Thuận năm 1995, với sự dìu dắt của anh trưởng ban Tổ Chức Trương Tiến Huân và cô Hội Trưởng Thu Nhi, quỷ của hội THBT từ con số không đã tăng lên thành 8 ngàn đô, hứa hẹn cho những công tác ý nghĩa kế tiếp. Tất cả mọi người trong Ban Chấp Hành và Ban Cố Vấn đều sung sướng và mãn nguyện với những thành quả và hi sinh chung. Những buổi họp của BCH luôn có mặt đông đủ hơn 30 người con tâm huyết của Hội TH BT cùng vui vẻ nhận trách nhiệm thừa hành các công tác. Người ta có thể cảm nhận tình thương và niềm vui chung của Hội với các tiếng cười vang to và lời chào hỏi nhộn nhịp trong các buổi ăn bánh căn nhà Phạm Mừng hoặc mỳ quảng nhà chị Minh Khanh và tiệc thân hữu nhà anh Nguyễn Văn Sâm. Các Đặc San Bình Thuận được thực hiện với nhiều bài vở rất giá trị. Sau những tán thưởng về nhạc cảnh Tiếng Dân Chài, với nhiệt tình đóng góp của Thượng Toạ Thích Quảng Thanh tại chùa Bảo Quang, mọi người náo nức xem một nhạc cảnh nào khác sẽ được Hội thực hiện kế tiếp. Đây cũng là một đòi hỏi càng lúc càng cao cho Hội, nhất là cho người sẽ đạo diễn thực hiện nhạc cảnh đó.

Một trong những bài thơ thi vị nhất của Mường Giang phải nói là bài Phan Thiết Ơi, Phan Thiết đã được nhạc sĩ Nguyên Chi phổ nhạc. Lời ca khúc ray rứt ấy đã vang vọng trong hồn người nghe và thúc đẩy nên sự hình thành của đêm nhạc hội tại vũ trường Majestic năm 1998. Nhạc cảnh Phan Thiết Ơi Phan Thiết với khoảng 20 diễn viên, được nhiều lời khen ngợi như là một điểm son. Nhạc sĩ Nguyên Chi đã hoà lời thơ sâu đậm của Mường Giang vào dòng nhạc tuyệt vời của ông ta.

Một buổi chiều nọ nhạc sĩ Nguyên Chi (tức bác sĩ Nguyễn Lương Chỉ) gọi điện thoại cho tôi hay là ông vừa phổ nhạc xong bài thơ Phan Thiết Ơi, Phan Thiết của anh Mường Giang, và ông kể tôi nghe hôm đọc được bài thơ đó ông đã tràn đầy thi hứng và tạo ngay ý nhạc. Tôi thấy náo nức vì cảm nhân đựợc niềm hạnh phúc của Bs Chỉ khi ông say sưa hát qua điện thoại cho tôi nghe. Những lời thơ của Mường Giang như tiếng chuông ngân của một tấm lòng yêu quê hương chân thành:

Cho ta về bên bờ sông Mường Mán
Gục đầu uống từng ngụm quê hương
Xuôi tay nằm dài trên bãi cạn
Lắng nghe tiếng chim hót kêu sương

Ðể sống lại những ngày còn Phan Thiết
Lầu Ông Hoàng lặng lẽ nhớ người xưa
Ôi nhớ sao tình quê nghe tha thiết
Cho ta đam mê quá khứ phạt phờ

Cho ta về với xóm phường Phan Thiết
Cùng đất trời cuồng loạn những cơn say
Bãi Thương Chánh không còn ai vẫy biệt
Không còn nghe gào thét nổi hờn cay

Cho ta về Bình Hưng xóm chài cô lẻ
Phan bội Châu thời áo trắng học trò
Trong biển mắt chứa chan trời diễm lệ
Trong tim ta réo rắt cả hồn thơ

Hỡi ơi ta đã điên cuồng nhớ
Mơ mộng nên quên nổi đau thương
Ðào khối sầu chôn trong đáy mộ
Phan Thiết ơi còn đó quê hương

(Phan Thiết Ơi, Phan Thiết, thơ Mường Giang, nhạc Nguyên Chi)

Nghe xong ca khúc đó tôi biết mình vừa bắt gặp món ngọc quý đang đi tìm. Thế là tôi bắt tay viết thêm các lời rao đầu, các câu vè, câu hò, lắp vào bài ca phần cuối. Sau 2 tháng tập dượt, cuối cùng nhạc cảnh được hoàn thành. “Phan Thiết Ơi, Phan Thiết” là nhạc cảnh khá công phu, là tiếng yêu tha thiết vang lên tự đáy lòng của người Bình Thuận. Nó là lời đáp đền chung của các người con cùng mang những liên hệ chôn nhao cắt rún với địa danh này. Với sự hỗ trợ và tham dự của nhiều hội đoàn Nam Cali, báo chí và văn nghệ sĩ, Hội TH Bình Thuận đã cống hiến một chương trình văn nghệ mang tính cách văn hoá đặc thù đậm tình quê hương. Các địa danh thân yêu như Hải Long, Thiện Giáo, Hoà Đa, Phan Lý Chàm, Tuy Phong, Phan Rí, Phú Long, Đức Thắng, Đức Nghỉa cùng các món ăn đặc sản địa phương như gỏi cá mai, bánh căn, mì quảng PT, bánh hỏi Phú Long, sò Hải Long, mực Long Hương trong các câu vè được ca tụng như gói ghém các tâm tình và niềm hãnh diện của những người con Bình Thuận. Nhạc cảnh có những lời đặc biệt qua giọng hò Bảo Phương:

Hò ơi...ai về Phan Thiết quê tôi
Nhắn sông Mường Mán chiều ôi nhớ cùng
Hò ơi...mộng về Thương Chánh gió luồn
Gió kia ai ướp để hồn tôi say
Hò ơi...người đi lạc xứ vấn vương
Nhớ về Phan Thiết đôi dòng lệ tuôn


Các hình ảnh kéo lưới, gánh cá, đẩy mái chèo của các ngư phủ mùa Chà trong quần áo nâu đen, khăn rằng quấn cổ, xuyên qua lời ngâm chân tình mát dịu ghi lại được những hình ảnh tuy cực nhọc nhưng đầy sung sướng và hạnh phúc của con người miền biển. Nhắc đến Phan Thiết không thể thiếu màu xanh biển cả và màu cát trắng mịn màng. Các người đẹp của hội TH Bình Thuận thướt tha trong tà áo dài xanh quyến rũ theo các điệu nhạc đã tô điểm cảm giác tươi mát thân yêu cho nhạc cảnh. Ngoài tiết mục chánh đó, đêm nhạc hội còn có sự đóng góp phong phú của Nhật Trường, Mỹ Lan, Mỹ thuý, Thái Tài, Anh Dũng, Bảo Phương v.v...

Nếu nhạc cảnh Tiếng Dân Chài thành công qua tiếng hát của các ca sĩ nổi danh, thì nhạc cảnh Phan Thiết Thiết Ơi Phan Thiết khi được trình diễn tại vũ trường Majestic Nam Cali vào năm 1998 do tiếng hát cây nhà lá vườn như Nguyễn Tư, Mai Minh, Cát Biển, Nguyễn Hưng v.v.. đã được tán thưởng nồng nhiệt của các đồng hương BT đêm đó một cách không ngờ. Đêm đã khuya, màn đã hạ, mọi người khách khác đã rời vũ trường mà các đồng hương vẫn quyến luyến bùi ngùi nắm lấy tay tôi ngỏ lời cảm ơn. Một yếu tố lớn của sự thành công đêm nhạc hội chính là do hứng khởi từ nhạc phẩm “Phan Thiết Thiết Ơi, Phan Thiết”, thơ Mường Giang, nhạc Nguyên Chi.

Mường Giang đã viết, viết rất nhiều. Anh viết như để đền đáp tấm chân tình với quê hương. Từ miền Hạ Uy Di xa xôi bên kia bờ Thái Bình Dương anh luôn góp con tim khối óc bàn tay mình, trong các sinh hoạt văn hoá báo chí của Công Đồng VN hải ngoại. Anh thở theo cùng nhịp đập với con tim của Little Saigon. Anh trọng thầy quý bạn nên mỗi khi thăm viếng bạn bè luôn là cơ hội với những món quà biểu tượng tấm chân tình.

Là một người cùng quê và cùng ý niệm hướng về quê hương, xin gửi lời tri ân với tác giả Mường Giang, một người anh và một người bạn dâng hiến quả tim mình làm đẹp quê hương. Những tác phẩm của Mường Giang, phong phú với nhiều đề tài thể loại khiến cho mọi người không thể nào không thấy ánh sáng chân tình đang chiếu tỏa ra từ một tấm lòng son.

Cát Biển
May 2009

Tuesday, May 5, 2009

Thái Luân và Một Sản Phẩm Kỳ Diệu

0 comments

Thái Luân và Một Sản Phẩm Kỳ Diệu


Cát Biển

Chúng ta hãy hướng về phương Đông và trở về quá khứ thật xa để thưởng thức một công trình có nhiều ý nghĩa.

Nó là một sản phẩm mà ngày nay đã trở thành nhu cầu tối cần thiết của đời sống văn minh. Chính các trang báo, cũng như bất kỳ một quyển sách hay tạp chí nào, đều được in trên nó. Chúng ta dùng nó để gửi những món quà tặng người thân yêu. Các phòng ốc trong nhà được tô điểm bằng nó. Các danh hoạ hay các tác phẩm nghệ thuật đều được in trên nó. Tôn giáo dùng nó để truyền bá những tư tưởng cao thâm. Những hiệp ước quan trọng của thế giới cũng đều được ký trên nó.

"Nó" chính là giấy, một sản phẩm rất cần thiết mà có lẽ chính cả người phát minh ra nó cũng không thể tưởng tượng hết những công dụng lợi ích.

Đi tìm về nguyên thuỷ của những tờ giấy đầu tiên, chúng ta phải ngược về hơn 2000 năm trước với nền văn hoá cổ xưa của Trung Hoa. Khác với địa vị của Trung Hoa ngày nay, vương quốc Trung Hoa từ ngàn xưa đã lừng lẫy dẫn đầu thế giới về văn hoá, kinh tế, và xã hội mải cho đến thế kỹ thứ 16. Đầu thế kỹ thứ 16 các nước Âu Châu mới bắt kịp và vượt trội hơn Trung Hoa với các tiến triển về kỹ thuật và văn hoá.


Theo sử liệu là triều đại của Hậu Đế (Ho Ti), vào những năm khởi đầu của Tây lịch (Tây Lịch dựa trên năm sanh của Đức Chúa Jesus Christ) mà giấy viết đã được phát minh. Hằng mấy trăm năm trước đó, người Tầu đã có tục khắc chữ lên mảng xương hoặc bảng đồng. Họ cũng viết chữ lên thanh trúc, lên lá cây, lên lụa, hoặc lên vải thô... Đối với tất cả vật liệu này chỉ có vải thô là tương đối thực tiễn và tiện lợi nhất để lưu trữ. Tuy nhiên, vào thời này, ngay cả vải vóc cũng rất là hiếm hoi và tốn nhiều công phu mới dệt nên. Một nhân sĩ thời bấy giờ là ông Thái Luân (T'sai Lun) nhận ra sự cần thiết, và ông bỏ nhiều công phu tìm tòi chế biến một loại chất liệu khác để viết chữ tương tự như vải, nhưng thực tiễn và ít tốn kém hơn.

Thái Luân đã chú tâm chế biến loại giấy thô vì ông cần vật liệu để viết chữ. Năm 55 tuổi, sau nhiều cố gắng không đạt được kết quả, một hôm ông dùng vỏ cây dâu giã nát cho nhuyễn, xong trộn thêm với sớ của cây gai, rồi ông bỏ vào nồi đun sôi. Kết quả là một chất đặc sệt có màu ngà trắng, mà khi phết lên khuôn phơi khô thì đông cứng lại thành những "tờ" giấy bồi dầy. Những tờ giấy này có thể được dùng để viết chữ bằng mực lên. Đó cũng chính là những tờ giấy đầu tiên của nhân loại.

Ông đệ trình công trình này lên triều đình Trung Hoa vào năm 105 sau Tây Lịch. Để khen thưởng công lao của ông, vua Hậu Đế ban ông phẩm hàm làm quan của triều đình. Sau đó ông trở thành một vị trọng thần của vua.

Tuy nhiên, nếu công trình của ông quả thật là hữu ích cho nhân loại, Thái Luân lại kém may mắn trong cuộc đời chính trị. Sau khi vua Hậu Đế băng hà, triều đình tấn phong một vị vua mới. Vì sự hiềm khích với một nhân vật khác trong hoàng tộc, gây nên sự nghi kỵ của vị vua mới, ông đã phải uống thuốc độc tự tử năm 118.

Sau khi ông mất đi, các công trình của ông được một đệ tử tiếp nối. Tuy nhiên, những bí quyết làm giấy này mãi hơn 1000 năm sau, tức vào thế kỹ thứ 12, mới bắt đầu được truyền sang Tây Ban Nha năm 1150. Đến thế kỹ thứ 15, khi giấy viết được thịnh hành tại Âu Châu, các nhà máy làm giấy thi nhau được dựng lên với nhiều kỹ thuật ngày một tân kỳ. Giấy thô thì được chế biến bằng những thủ thuật đơn giản. Các loại giấy quý thì dùng các phương thức hoá học phức tạp pha trộn sớ giấy với các hợp chất soda, sulfate hoặc sulfite để tăng vẻ tinh anh và độ bền bỉ của giấy. Nhưng nguyên tắc chính vẫn dựa vào tính chất kết hợp của các tế bào gỗ khi các sớ cây được nghiền nhỏ, phết lên khuôn rồi phơi cho đong khô lại.

Điều đáng chú ý là mãi đến thế kỹ 21 của chúng ta, loài người vẫn không ngừng phát minh chế biến các công dụng mới của giấy. Công ty McDonald đã khởi đầu kỹ nghệ fast food vào thập niên 60 nhờ sáng kiến đựng thức ăn bằng các ly, bao và hộp giấy. Các đại công ty luôn luôn tìm cách hạn chế số lượng giấy khổng lồ mà họ phải đối phó hằng năm. Quý vị luật gia yêu thích giấy "Put it on paper, sir!"... Kỹ nghệ tái-tuần-hoàn (recycling - chế biến hữu dụng lại các sản phẩm đã xài rồi) càng khiến giấy trở nên gần gũi với các nhu cầu hằng ngày của chúng ta hơn. Với sức tưởng tượng vô biên và ngộ nghĩnh của loài người, chắc chắn là chúng ta chưa biết hết các công dụng của giấy, một sản phẩm kỳ diệu đa năng của nhân loại.

Cát Biển

Saturday, May 2, 2009

10 Đôi Mắt Đẹp Nhất Thế Giới

0 comments
10 Đôi Mắt Đẹp Nhất Thế Giới

Bất cứ ai đối diện với các mỹ nhân như Aishwarya Rai, Angelina Jolie hay Elizabeth Taylor cũng bị ánh mắt của họ hút hồn, "chết chìm" trong cái nhìn mê hoặc. Dưới đây là 10 đôi mắt đẹp nhất thế giới theo kết quả bình chọn của trang DHM (Ấn Độ):

Aishwarya Rai từng được tạp chí Time bình chọn là 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới. Cô cũng liên tục lọt vào danh sách những người đẹp nhất thế giới và đôi mắt chính là câu trả lời cho mọi danh hiệu.

Angelina Jolie không chỉ sở hữu một đôi môi gợi cảm, ánh mắt hút hồn của cô cũng khiến cánh mày râu phải chao đảo mỗi khi lỡ nhìn vào đó.

Diễn viên kiêm ca sĩ người Mỹ Lynda Carter từng được trao giải TV Land Award cho vai diễn siêu nhân trong show truyền hình nổi tiếng Wonder Woman năm 2004. Đôi mắt biết nói của cô đã chinh phục không biết bao nhiêu khán giả.

Đôi mắt tím biếc của Elizabeth Taylor quyến rũ bất cứ người nào đối diện.

Đôi mắt ngây thơ của Audrey Herpburn được ví với mắt của một con nai tơ ngơ ngác.

Đôi mắt của cô gái người Afghanistan Sharbat Gula đã tốn không biết bao giấy mực của cánh báo chí. Cô gái mồ côi này lọt vào ống kính máy ảnh của phóng viên chiến trường Steve McCurry khi ở trại tị nạn Pakistan năm 1984. Dư luận xôn xao tìm kiếm và phải đến năm 2002 người ta mới tìm ra danh tính của cô.

MC người Italy Giada De Laurentii có ánh nhìn trìu mến và được khán giả rất ái mộ trong chương trình Everyday Italian.

Cô gái trẻ Kristin Kreuk sở hữu đôi mắt đẹp hút hồn khi vào Lana Lang trong "Thị trấn Smallville".

Sophia Loren có một đôi mắt khiêu khích và gợi cảm.

Charlize Theron có đôi mắt trong và sáng ngời nét thông minh.


Tuesday, April 28, 2009

Giọt Lệ Trong Tim (Nhạc)

0 comments

Giọt Lệ Trong Tim



thơ: Cát Biển
nhạc: Nguyễn Đức Tuân
ca sĩ: Vũ Trung Hiền
piano: Linh Phương

Ba mươi năm giọt lệ
Ước mơ còn trong tim
Nhớ những người đã chết
Tự Do cố đi tìm

Mai về hành tinh lạ
Tìm lại thiên đường xưa
Cho ta thời tuổi ngọc
Bờ biển rộn mùa chà

Cho ta ngón tay gầy
Của mẹ sờ trên má
Cánh tay trần của cha
Ôm qua đời trẻ nhỏ

Ba mươi năm thổn thức
Chiều cho bạn bè tôi
Tủi sầu đầy trong ngực
Ngày trên biển nổi trôi

Ba mươi năm rồi sao
Gương soi tìm bóng cũ
Hỏi hồn xưa trú ngụ
Xin hạnh phúc năm nào

Ba mươi năm dâu bể
Uất hận tràn con sóng
Tiếng khóc khô không lệ
Tan tác cả cánh đồng

Cát Biển
4/18/2009

Thursday, March 26, 2009

Ba Mươi Năm - Giọt Lệ Và Niềm Tin

1 comments

Ba Mươi Năm - Giọt Lệ Và Niềm Tin

Cát Biển

Khi người ta nhập vào dòng chánh, có phải chăng bản sắc dân tộc càng lúc càng bị nhạt nhoà? Hơn ba mươi năm sống trên nước Mỹ, tiếng Anh vẫn luôn là yếu tố then chốt để người Việt thăng tiến trong nghề nghiệp. Đi làm ở các công tư sở, người kém tiếng Anh sẽ không vượt xa các đồng nghiệp. Vì vậy, dầu mang nỗi bùi ngùi nào đó khi thấy các con em mình mau mắn đối đáp bằng tiếng Anh thay vì tiếng Việt, chúng ta cần có sự thông cảm này. Nhìn lại, các quốc gia Đông Nam Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan...đều trọng dụng tiếng Anh. Các quốc gia này hầu hết đều có vài nhật báo Anh Ngữ phát hành trong xã hội của họ. Phi Luật Tân có mấy chục thổ ngữ, lại dùng tiếng Anh là chính. Ấn Độ cũng coi Anh Ngữ là ngôn ngữ hàng đầu trong giao dịch. Các người Âu Châu phần nhiều đều nói thông thạo Anh ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ. Như vậy Anh ngữ trong thiên niên kỷ này có giá trị vượt lên khỏi tự ái và tự tôn của một dân tộc. Tiếng Anh là chìa khoá bước vào kho tàng văn hoá thế giới, và là điều kiện tiên quyết của giao thương kinh tế trong bối cảnh hoàn cầu hoá của chúng ta.

Tuy nhiên chúng ta không thể nào bỏ rơi tiếng Việt. Vì đó mới chính là tiềm lực, là sức mạnh âm ỉ mà mạnh mẽ nhất, nói lên sự thành công của người Mỹ gốc Việt. Giới trẻ Việt nay thành công trên nước Mỹ không ít thì đều nhiều dựa vào sức mạnh tiềm ẩn đó của bản sắc người Mỹ gốc Việt. Một ngày nào đó thử hỏi, nếu mất đi thành phố mang tên “Little Saigon”, chúng ta còn gì lấy làm hãnh diện sự thành công vượt bực của người Việt trên nước Mỹ, mà mới ngày nào chân ướt chân ráo xếp hàng đưa tay lãnh cơm tại trại tị nạn Orote Point ở Guam, năm 1975?

Dầu có những điểm khen chê, chính văn hoá Việt đã xây dựng nên một xã hội Việt trong nước Mỹ. Công lao đó phần lớn là nhờ vào tiếng Việt. Nếu hiểu điểm này thì chúng ta mới có thể sống vững mạnh trong xã hội đa nguyên của Hoa Kỳ. Giống như một người có yêu thực sự thì mới được đáp lại bằng một tình yêu đúng nghĩa.

Có người từng nói “phải cần cả một ngôi làng để hun đúc, đào tạo nên một con người.” Những ngày thơ ấu chúng ta cần bầu sữa mẹ và tiếng ru vành nôi để mình thương yêu nòi giống. Gia đình, để làm nền tảng đùm bọc. Khi lớn lên, cần tình bạn để thêm tự tin và trao dồi năng khiếu. Ra đời, chính các người chung quanh cho chúng ta những gương cao đẹp để vươn lên, và tự tìm lấy ý nghĩa kiếp người.

Thời tuổi nhỏ, trong đám học trò vỡ lòng có 1 tên bạn bé tí bằng tuổi tôi mà tôi rất thích. Giờ đây kể chuyện tôi vẫn còn nhớ rõ dáng vóc nhỏ nhắn đó của Cường, tên đầy đủ là Đinh Quốc Cường. Chúng tôi cùng học chung trường thầy giáo Thẹo. Thầy tên là thầy Nhiều, nhưng có 1 vết thẹo mé trên mí mắt do hồi đi kháng chiến nên ai cũng kêu là thầy giáo Thẹo. Trong lớp, chúng tôi ngồi gần nhau, tôi hay chỉ Cường làm toán. Cường lúc nào đi học cũng ăn mặc sạch sẽ, tươm tất, thơm tho. Chúng tôi hay mua đồ ăn và ngồi chia nhau ăn lúc ra chơi. Có hôm tôi thiếu cục gôm, Cường vui vẻ cho tôi cục gôm. Có lần tôi cho Cường cây bút mà tôi thích nhất. Quyển tập vỡ thời ấu thơ đó có in hàng chữ “Ngày Nay Học Tập, Ngày Mai Giúp Đời” ở hình bìa mà tôi vẫn nhớ mãi nằm lòng. Bây giờ vẫn còn nhớ rõ. Ngày gia đình tôi dời nhà sang ấp Đức Nghỉa, đi học trường khác tôi cứ nhớ mãi cậu bé Cường bạn tí hon cùng lớp đã cho tôi nhiều niềm vui của tình bạn. Đã bao nhiêu năm rồi nhỉ. Cường đã cho tôi một tình bạn thơ ấu đáng yêu và những nhận thức đầu đời về tính hi sinh. Người em của Cường là Đinh Quốc Tuấn sau này trở thành cây vợt tennis trẻ vô địch của Việt Nam. Tuấn chết lúc vượt biên.

Những năm trung học đầu tiên tôi có một người bạn thân khác tên là Đức. Chúng tôi thân nhau cả khi đi học lẫn sau giờ học. Anh ta lớn hơn tôi 2 tuổi, đánh đàn rất giỏi. Một hôm nọ, nghe anh hát “Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm..” tôi bắt đầu suy nghĩ và ngạc nhiên về điều mà người lớn gọi là tinh yêu. Vài năm sau Đức phải nghỉ học vì gia cảnh túng thiếu.

Những ngày lớn khôn ở tuổi vào đời, tôi và mấy tên bạn thân cùng vui đùa, tinh nghịch, đùa giỡn, trêu chọc, tâm sự, thậm chí đấu nhau về triết lý. Tuổi mới lớn đó có cả những cãi cọ, đụng chạm, và uýnh lộn với nhóm khác. Nhưng nếu tuổi ấu thơ thật êm đềm như mực nước sông Mường Giang bình dị, thì tuổi mới lớn của tôi nhiều biến động ồ ạt như các cơn sóng dữ của Thái Bình Dương. Một ngày nọ tôi ngồi thừ người hoang mang khi biết rằng, ai đó rồi cũng phải chết. Điều đó làm tôi lặng người phân vân cả 1 buổi chiều. Thật là một sự thật đầy kinh ngạc. Giờ đây ngẫm lại, đám bạn xưa gồm Diệu Lý, Cu Tân, Bá Long, Hoàng Đen, Quang, Hùng, Dũng Lọ, Nam Bò, Thân, Tịnh v.v…giờ chỉ còn sống vài người. Dũng Lọ đẹp trai, Hoàng, và Nam Bò vui tính bị mất tích. Thân và Tịnh chết vì pháo kích. Tân chết vì viêm gan. Bá Long, người hài hước có duyên nhất, sau này đi lính và tử trận. Hơn một nữa đã về với cát bụi. Có một khoảng cách giữa mình và quá khứ. Việt Nam và Mỹ. Một hụt hẫng phân chia hai bờ cuộc sống.

Qua đến Mỹ, những bạn thân xưa đều lạc loài tứ tán. Những năm đầu còn nhớ và thương bạn. Sau đó quây quần với những xô bồ thực tế. Có khi mình còn quên cả chính mình, chỉ biết lủi theo dòng đời, giống như xe chạy nhập dòng trên xa lộ. Bạn bè như tinh tú, tuy không có mặt bên nhau nhưng hiện hữu để mình nhìn lên đó và tìm nhớ lại một phần của chính mình.

Ngày ra khỏi trại tị nạn Indiantown Gap về định cư tại thành phố Wilkes-Barre các người Việt tị nạn được học lớp ESL. Qua cô giáo trẻ tuổi Janet, tôi học một cách thích thú những từ ngữ mang ý nghĩa rất đẹp của tiếng Anh. Đại khái với các chữ rất thông dụng trong đời sống Mỹ như sau:

Blessing: Ân phúc, sự may mắn được ban cho
Lullaby: Bài hát ru con
Sophisticated: Tinh vi, sành điệu, sâu sắc
Renaissance: Thời kỳ phục hưng, đặt giá trị nơi mẫu người vẹn toàn, uyên bác
Cute: Xinh, có duyên, dễ thương
Cozy: Ấm cúng, thoải mái, dễ chịu
Passion: Niềm say mê, cảm xúc đam mê mạnh mẽ
Eternity: Sự vĩnh cửu, tính bất diệt, bất tử
Fantastic: tuyệt vời, lạ thường, trứ danh
Destiny: Định mệnh, số phận
Freedom: Tự do
Liberty: Quyền tự do bình đẳng, sự công bằng trong xã hội
Tranquility: Sự thanh bình, thanh tịnh, yên tĩnh
Blossom: Thăng hoa; nở hoa
Sweetheart: Người yêu dấu, người mình thương yêu
Gorgeous: Tuyệt đẹp, lộng lẫy, tráng lệ, huy hoàng, mỹ lệ
Cherish: yêu thương trân quý
Enthusiasm: Sự hăng say, nhiệt tình
Grace: Vẻ thanh lịch, duyên dáng, yêu kiều, phong nhã
Rainbow: Cầu vồng
Twinkle: Ánh sáng lấp lánh
Serenpidity: Sự trang nghiêm cao cả, bình an trong tỉnh lặng

Khi tôi được nhập học trường đại học Wilkes, ngoài lớp Anh văn ESL đặc biệt của trường dành cho các sinh viên ngoại quốc, tôi đều có thêm một hoặc hai sinh viên Mỹ dạy kèm Anh ngữ trong các giờ học riêng. Các sinh viên Mỹ dạy kèm này rất lịch sự, thông cảm và kiên nhẫn nên cũng giúp tôi vượt qua những khó khăn. Một sinh viên này là Diane Polachek, cây vợt tennis vô địch nữ của trường. Những ngày đầu rất thẹn thùng vì mình cứ phát âm sai, nhưng sau đó tôi mạnh dạn lập lại các chỗ sai và ráng đánh lưỡi cho đúng cách phát âm. Nhìn lại, không một kết quả nào mà không đòi hỏi sự kiên trì.

Sang Mỹ năm 1975 cái gì cũng không biết, mình phải dò dẫm tự học hỏi. Những ngày lam lũ chật vật với cuộc sống mới ở Mỹ, đời sống sinh viên quá bận rộn và đầy rẫy áp lực. Gánh vác một học trình khá nặng, mỗi khoảnh khắc của giờ giấc đều quý như vàng. Tiền không có dư dả chút nào, thèm mua cây kem $1 cũng phải suy nghĩ kỷ. Cuối tuần đi qua con phố chính Main Street ở Wilkes-Barre, chỉ mua được lát bánh pizza $1.29 là quý lắm. Có lần tôi mời bà thầy dạy văn chương, Dr. Charlotte Lord, đi ăn cho vui. Mình chỉ kêu được dĩa steamed clams giá $3.50. Bà vẫn vui tươi cười nói. Sau đó lại còn mời tôi ghé qua nhà bà ăn trả lể.

Dr. Lord là người đàn bà thông cảm, và bà quý tôi. Phải nói là bà quý tính phấn đấu của một sinh viên gốc Việt cố vươn lên từ khó khăn của nghịch cảnh. Những bài viết môn văn chương của tôi đầy những nét viết màu đỏ của bà phê và sửa lại lời văn cho đúng văn phạm. Có lẽ bà bỏ nhiều thì giờ cho các bài viết của tôi hơn các người khác trong lớp. Vì sợ sẽ bị rớt môn Anh văn năm đó, tôi cố viết nhiều, kể lại kinh nghiệm bản thân và ý nghĩa cao quý của hai chữ tự do đối với người Việt mà người khác có thể coi thường. Các hàng chữ sửa sai màu đỏ của bà giáo sư Lord càng lúc càng vơi đi, thay bằng những lời khuyến khích và hài lòng. Môn English 101 cuối cùng tôi cũng vượt qua với điểm B. Hãnh diện, nhưng không mãn nguyện. Vì tôi nhất quyết lấy con A. Giáo sư Lord đã qua đời khoảng 8 năm sau khi tôi rời trường. Bà rất xinh đẹp khi còn trẻ, có mấy mối tình, nhưng không hề lập gia đình. Bà mất năm 72 tuổi.

Nhưng nếu không nhờ những hàng chữ màu đỏ chi chít kia, làm sao tôi có thể trao dồi, dù là rất khổ sở hằng đêm vào dạo đó. Chính những hàng chữ đỏ đó đã giúp uốn nắn tôi thành một công dân Mỹ gốc Việt.

Phải nói cho rõ, tôi đã viết các bài luận văn đó một cách gián tiếp. Tôi đã đến với Anh ngữ qua Việt ngữ. Và cũng nhờ đó mà được sự thông cảm và quý mến của người thầy, Dr. Lord. Nhờ tiếng Việt, tôi đã có cơ hội thổ lộ tâm tình một người Việt tị nạn trong các bài luận văn, trước khi cố gắng dịch chúng sang Anh ngữ. Điều này giống như những lá thư ngày xưa với tuồng chữ mộc mạc của mẹ tôi thương mến viết cho tôi khi tôi xa nhà vào Saigon trọ học. Lời mẹ tôi trong những lá thơ yêu dấu với hàng chữ nghệch ngoạc kém văn hoa nhưng chứa đầy sự khôn ngoan qua năm tháng kèm một tình mẫu tử bao la, đã luôn làm tôi nhoà mắt khóc vì thương nhớ mẹ. Các bài luận Anh ngữ của thời đó tuy kém cỏi về giá trị văn phạm, nhưng mang những tâm sự đầy trắc ẩn của lớp người tị nạn mới trên nước Mỹ. Ba mươi năm nhìn lại, chính văn hoá Việt tiềm ẩn trong những hàng chữ tiếng Anh kia đã đánh thức lòng yêu quý của vị thầy người Mỹ. Qua hình ảnh tôi, Dr. Lord đã thấy lại sự phấn đấu của các lớp người tị nạn Ý, Trung Hoa, Mễ, Ái Nhỉ Lan, Anh v.v...đã chung sức tạo nên một nước Mỹ hiện tại. Nước Mỹ đa nguyên, với dân số không đầy 6% nhân loại, đã có những phát mình và thành quả kinh tế, quân sự, giáo dục, pháp luật, văn hoá mạnh hơn 60% các diễn biến trên thế giới.

Nhắc đến mẹ, lòng tôi không khỏi quặn lên một niềm hối hận. Những ngày thơ ấu ở Phan Thiết, gia đình tôi không dư dả nhiều, nhưng được cha mẹ tôi đùm bọc nên chị em chúng tôi không thấy bị thiếu thốn. Sau này lớn khôn thêm, nghe ba tôi kể chuyện những ngày cơ cực khi cha tôi mới lấy mẹ tôi, rồi quá nghèo khổ không thuốc thang chửa trị nên anh cả tôi bị chết, nước mắt tôi tự nhiên chảy đầm đìa. Dạo còn nhỏ, tôi cứ xin mẹ sinh thêm cho tôi một người anh khác, để khỏi bị lũ con nít trong xóm ăn hiếp. Nhớ nhất là những lúc mẹ đi buôn bán chiều về nhà. Mẹ luôn kêu tôi cho trái ổi, trái quýt, trái cam. Khi thì được trái xoài, măng cụt. Tiếng yêu thương của mẹ tôi là như thế. Không phải bằng lời nói “yêu thương” mà là cái nhìn âu yếm trìu mến, cái vuốt đầu khi mẹ sung sướng. Vậy mà khi sang Mỹ rồi, ai cũng lo phấn đấu với cuộc sống mới. Chợt nhớ lại những lúc tôi la mẹ vì mẹ bỏ đồ giặt và đổ đầy thuốc tẩy làm hư hết quần áo, hoặc khi mẹ rang popcorn trong microwave lâu quá làm cháy khét cả nhà. Mẹ tôi đành lặng im không đáp. Trời ơi, thấy mình sao kém cỏi nhỏ mọn quá. Sao mình không biết lựa lời để mẹ khỏi đau lòng. Bây giờ cha mẹ đã khuất núi rồi, làm sao mình sánh với những tình thương và hạnh phúc cha mẹ đã từng ban cho trong quãng đời khốn khổ kia.

Trở lại chuyện Anh văn, năm học thứ nhì sau lớp Dr. Lord là kỷ niệm đáng nhớ. Lớp English 102 vào năm đại học thứ hai là do Dr. Jack Hardy dạy. Jack sấp sỉ khoảng 40 tuổi, dáng người gầy dong dỏng, đẹp trai, tóc hơi quăn, mang kính và nghệ sĩ. Ông giảng bài mạch lạc và hấp dẫn. Ông là cố vấn đặc san Manuscript của trường Wilkes, do các sinh viên chuyên về ban Văn Chương biên tập. Báo có các bài phỏng vấn, tường trình, thơ truyện, và đặc biệt là tổ chức giải thơ văn có thưởng mỗi cuối năm học. Jack khởi đầu lớp English 102 của chúng tôi với lời khen ngợi 1 bài khảo luận (research paper) của một sinh viên khoá trước, đọc cho chúng tôi nghe làm mẫu. Năm đó tôi càng đọc càng rất khâm phục nhân vật Ralph Nader, tác giả sách “Unsafe At Any Speed”, mà lại viết bài phê bình chỉ trích quyển sách ông ta trong bài khảo luận của tôi. Tôi rất thích bài viết của mình nên khi chép tay, cố gò từng câu từng chữ cho thật đẹp, thật vừa ý. Có khi phải viết lại cả trang chỉ vì dư thừa mấy chữ mình không đắc ý. Bài nộp xong là gần cuối niên học. Ngày cuối của môn English 102 ông Jack nhắc với lớp là hôm trước ông cho chúng tôi nghe 1 bài khảo luận mẫu của 1 sinh viên. Hôm nay trong lớp này, có 1 bài khảo luận còn hay hơn bài đó. Và bài đó là của tôi. Môn đó tôi sung sướng được điểm A. Ông luật sư Ralph Nader ngày nay vẫn còn hay ra ứng cử chức vụ Tổng Thống Mỹ, để tranh đấu bảo vệ quyền lợi của người tiêu thụ. Sau đó là chuyện khác đáng nhớ về môn vẽ hội hoạ, mà bà khoa trưởng, Dr. D’vorsion, khuyên tôi nên đổi qua môn hội hoạ, trong khi tôi rất thích ngành Điện (mà sinh viên Việt gọi đùa là “điên nặng”).

Tiếp theo quãng đời học Anh ngữ trong trường, là những ngày theo đuổi ngành diễn thuyết khi đi làm việc. Vì ngành kỹ sư đòi hỏi phải thuyết trình thường xuyên diễn tiến các công việc và kỹ năng mới, nên tôi rất e ngại về vốn liếng tiếng Anh kém cỏi của mình. Rồi tôi quyết định lủi vào chỗ nào mà mình sợ hãi nhất. Tỉ dụ, tôi rất “ngán” trò chơi rollercoaster trong các amusement park của Mỹ. Vì sợ nó tôi quyết định xếp hàng đi chơi nó, và tự coi như mình đã chết rồi. Nhờ vậy mà tôi không còn sợ món chơi đáng khiếp đó nữa. Tương tự, tôi gia nhập hội thuyết trình viên Toastmasters International cũng vì ngán tiếng Anh. Hội có 1 club ngay trong sở làm.

Những tưởng chỉ gia nhập 1 thời gian ngắn để học hỏi, không ngờ duyên nợ này kéo dài 14 năm. Các hội viên trong club tôi đa số là các kỹ sư Mỹ có bằng cấp cao. Trung tâm nghiên cứu Exxon Production Research thường tuyển các nhân viên có bằng Cao Học và Tiến Sĩ nhiều hơn là bằng Cử Nhân. Tôi nhớ năm đầu vào hội, đi xem kỳ thi diễn thuyết cấp District của Thành Phố Houston, thật thích thú không thể tả với các thí sinh diễn giả đại diện các Khu Vực (gồm nhiều hội) về dự thi. Từ cách chọn đề tài, phát âm, sử dụng ngôn từ, cách khôi hài, đến giọng lên xuống của họ, tôi ngồi xem và lắng nghe một cách say mê từng bài diễn thuyết, lòng ước ao có một ngày nào mình cũng sẽ là một diễn giả thí sinh như họ. Có ngờ đâu cơ hội dun rủi, bài thi của tôi năm sau đó được thắng hạng nhất trong club. Đó là bài có tựa đề “Một Chuyến Phiêu Lưu Kỳ Thú”, nói về cuộc đời của tôi là một người Việt tị nạn, với những khổ đau sau ngày mất nước và cố gắng vượt khó khăn theo học đại học, cuối cùng tốt nghiệp kỹ sư. Câu chuyện thương tâm của người tị nạn Việt Nam làm một số người Mỹ thấy lại hình ảnh phấn đấu của các người tị nạn cha ông trước kia. Bài thuyết trình đó có đoạn cuối như sau:

“Có người bạn từng nói với tôi rằng chúng ta đều là Sản Phẩm Chưa Hoàn Tất của thượng đế...mãi cho đến, có thể nói là, hai giây cuối cùng trước khi mình nhắm mắt. Các bạn hỡi, hãy cứ mơ giấc mơ của bạn, và biến nó thành sự thật. Tất cả chỉ cần sự học hỏi. Học hỏi để đạt đến ý nguyện, bất chấp mọi giới hạn. Học hỏi để biết yêu quý cuộc sống. Dù cuộc đời không hoàn hảo, nó vẫn là một thế giới đẹp. Học hỏi cách sống đạt đến tuyệt đỉnh khả năng mà bạn có, vì cuộc đời là do chính chúng ta tạo ra nó. Không kém thảo mộc và tình tú, bạn là một đứa con của vũ trụ, bạn có quyền hiện hữu. Mỗi người trong chúng ta là những cá thể đặc thù, những đứa con đặc biệt của tạo hoá. Hãy trân quý điều đó. Khai phá nó. Làm tốt nó. Biến nó thành những gì tuyệt nhất, từ những gì thiên nhiên ban cho bạn, và không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ, xem thường từng giây phút sống. Nếu bạn không làm được những điều vĩ đại, hãy cứ làm những điều tầm thường – nhưng làm những điều tầm thường đó một cách sâu sắc, vĩ đại. Cuộc đời không chỉ gồm những điều bạn đang có, mà gồm luôn cả những điều bạn Có Thể Có. Vì vậy, hãy mở rộng tầm nhìn và khai triển các ước vọng của bạn, hãy biến cuộc đời của bạn thành một chuyến phiêu lưu kỳ thú...”

Phải nói là tôi đã nói lên tính phấn đấu chung của người Mỹ gốc Việt. Tôi cũng chỉ là một người tị nạn tầm thường. Nhờ sức mạnh văn hoá tiềm ẩn của người Việt máu đỏ da vàng, tôi đã có cơ hội diễn bày tâm sự ấy, tính phấn đấu ấy như một đóng góp vào quốc gia Hoa Kỳ mà đã mở rộng vòng tay cứu giúp, từ định mệnh bất hạnh của dân tộc. Bài diễn văn đó thắng giải nhất kỳ thi trong Club, thắng luôn Khu Vực, rồi thắng cả ở District. Sau đó đại diện District đi thi Vùng (Regional) tại Austin TX, tôi theo luật thi, đổi bài diễn văn khác. Tôi được giải Ba kỳ thi Vùng. Mãi đến năm sau đó, khi dọn qua Long Beach CA, tôi mới thắng giải vô địch Vùng II (gồm California, Arizona, Nevada) và trở thành 1 trong 9 người dự thi chung kết giải vô địch thế giới về diễn thuyết.

Ngày mới qua trại Orote Point ở Guam xếp hàng đi lãnh thức ăn, lòng tôi đầy mặc cảm và thương tích với những chuyện buồn đau. Giờ đây ba mươi mấy năm nhìn lại. Là người Việt tị nạn, tôi hãnh diện với danh xưng Little Saigon trên đất Mỹ. Dầu tôi đang sống ở Nam Cali hay trôi dạt phương nào, lòng tôi vẫn mang niềm tự hào về giá trị biểu tượng của cái tên Little Saigon đầy thân yêu ấy. Nó cho tôi một đặc tính nhân bản về giá trị con người, cái gọi là personal identity. Giống như màu cờ vàng ba sọc đỏ, tên thành phố Little Saigon nói lên quá trình của một công cuộc hi sinh tranh đấu cho Tự Do của người Việt. Nó là tấm gương phấn đấu và kiên nhẫn chung của bao nhiêu người Mỹ gốc Việt. Từ con số không, những con người mất mát khổ đau ấy đã dựng lên thành phố Little Saigon ngay giữa lòng đất Mỹ, với tầm hoạt động và mãi lực đáng kể về kỹ thuật, y khoa, giáo dục, văn nghệ, luật pháp v.v...

Bài hát Hai Mươi Năm của nhạc sĩ Phan Văn Hưng vẫn còn vang vọng trong tim tôi “Hai mươi năm, đàn trẻ thơ nay đã lớn, và chàng trai nay đã già, những người xưa đã nằm xuống và rừng núi đã héo nhoà…Người còn yêu hãy còn nhớ, phải vượt qua những bến bờ..Phải tìm sâu trong hồn nước, những thoi thóp những mong chờ..Người còn tha thiết núi sông, thì sẽ thấy cơn mưa nguồn..Để lặn lội vẫn đi tìm, sẽ thấy đường dấu quê hương...” Thắm thoát đã hơn 30 năm. Tôi vẫn nhớ, nhớ rất nhiều, về tuổi ấu thơ thật đẹp của vùng dĩ vãng mà mình đã ngụp lặn trong văn hoá tiếng Việt. Tôi đang sống và nhớ các người bạn đã chết. Cuộc đời ở Hoa Kỳ như cách biệt với quá khứ cũ bằng một dòng sông vô hình nào đó. Một khoảng cách hụt hẫng mà mình phải vượt xuyên qua tâm thức thì mới đến được bến bờ kỷ niệm bên kia, giống như trong phim Back To The Future. Tôi luôn tự hứa là mình phải cố gắng phấn đấu trong dòng văn hoá Mỹ, nhưng sẽ không làm nhạt nhoà nguồn gốc Việt mà tạo hoá đã ban cho tôi.

Cát Biển




Hai Mươi Năm

Lời : Nam Dao
Nhạc : Phan Văn Hưng

Hai mươi năm
đàn trẻ thơ nay đã lớn
Và chàng trai nay đã già
Những người xưa đã nằm xuống
Và rừng núi đã héo nhòa

Hai mươi năm,
người cụt chân trên hè phố
Kẻ quyền uy trong căn nhà
Người nằm rên trong hộ xá
Là người sáng hay đã lòa

Người bỏ thây nơi trùng dương,
mộng nhổ neo trên sóng gầm !
Những hồn ma sau hàng kẽm,
những con mắt sâu trừng trừng .

Người nằm chết trên núi sông,
người đào sẵn trên ruộng đồng,
người lặn lội vẫn đi tìm,
bao con đường dấu quê hương !

Hai mươi năm,
những người đi đã về bến
Một vùng quê hương không còn
Những người điên trong ngục khám
Một đoàn quân trong khách sạn

Hai mươi năm,
nhiều kẻ gian trong làng xóm
Người hiền khô mang gông cùm
Kẻ mộng du lên bạo chúa
Người ngồi khóc trên sân chùa

Người hùng xưa nay giầu sang,
một thằng bé đứng trần truồng !
Nhìn người qua buôn và bán,
kẻ gian ác đi nghênh ngang !

Người già nua có nhớ không ?
hay đã quên những nỗi tình ?
Người đập đá trên nông trường,
trơ lưng còm cõi gió sương !

Hai mươi năm,
những nụ hoa cho người hái
Những thể xác cho ai đầy
Một thầy cô trong nhà chứa
Gặp trò xưa bỗng khóc òa

Hai mươi năm,
người còn tâm hay còn trí
Lòng sục sôi như vỡ bờ
Đàn lạc giây đang bỏ xó
Còn vọng nghe tiếng nức nở

Người chạy quanh theo thời thế,
rồi nhặng xanh bu lối về !
Mà lặng im bên mộ đá,
nào có biết gió Thu qua ?

Một người đi trong đám ma,
mặc người vui trong xa hoa !
Người tù tội trước quan toà,
chỉ gục đầu giấc mơ xa !

Hai mươi năm,
Triệu người đi trong cuộc sống
Mà thể xác như không hồn
Triệu người lao trong cùng khốn
Và buồn vui như bao lần

Hai mươi năm,
Người hiền lương dẫu còn sống
Phải cật lưng trong thiên đường
Những vết nhăn trên vừng trán
Và hòn than nung trong lòng

Người còn yêu hãy còn nhớ,
phải vượt qua những bến bờ
Phải tìm sâu trong hồn nước,
những thoi thóp những mong chờ

Người còn tha thiết núi sông,
thì sẽ thấy cơn mưa nguồn
Để lặn lội vẫn đi tìm,
sẽ thấy đường dấu quê hương .

Người còn tha thiết núi sông,
thì sẽ thấy cơn mưa nguồn
Để lặn lội vẫn đi tìm,
sẽ thấy đường dấu quê hương .

Hai mươi năm ...

I Told You So

0 comments
I Told You So

Carrie Underwood and Randy Travis

Verse 1
Suppose I called you up tonight
And told you that I love you
And suppose I said I want to come back home
And suppose I cried and said I think I finally learned my lesson
And Im tired of spending all my time alone
If I told you that I realized you're all I ever wanted
And it's killing me to be so far away
Would you tell me that you love me too
And would we cry together
Or would you simply laugh at me and say...

Chorus
I told you so, Oh I told you so
I told you some day you would come crawling back
And asking me to take you in
I told you so, but you had to go
Now I've found somebody new
And you will never break my heart in two again

Verse 2
If I got down on my knees
And told you I was yours forever
Would you get down on yours too and take my hand
Would we get that old-time feeling
Would we laugh and talk for hours
The way we did when our love first began
Would you tell me that you've missed me too
And that you've been so lonely
And you've waited for the day that I returned
And we'd live and love forever
And that I'm your one and only
Or would you say the tables finally turned

would you say...

Chorus

Friday, March 6, 2009

Is it Love or Infatuation?

0 comments

Is it Love or Infatuation?


Infatuation is instant desire. It is one set of glands calling to another.
Love is a friendship that has caught fire. It takes root and grows, one day at a time.
Infatuation is marked by a feeling of insecurity. You are excited and eager, but not genuinely happy. There are nagging doubts, unanswered questions, little bits and pieces about your beloved that you would just as soon not examine too closely. It might spoil the dream.
Love is quiet understanding and the mature acceptance of imperfection. It is real. It gives you strength and grows beyond you to bolster your beloved. You are warmed by his/her presence even when he/she is away. Miles do not separate you. You want him/her nearer, but near or far, you know he/she is yours and you can wait.
Infatuation says, "We must get married right away! I can't risk losing you!"
Love says, "Be patient. Do not panic. Plan your future with confidence."
Infatuation has an element of sexual excitement. If you are honest, you can admit it is difficult to be in one another's company unless you are sure it will end - in intimacy.
Love is the maturation of friendship. You must be friends before you can be lovers.
Infatuation lacks confidence. When he/she is away you wonder if he/she is cheating. Sometimes you check.
Love means trust. You are calm, secure and unthreatened. Your beloved feels that also and that makes them even more trustworthy.
Infatuation might lead you to do things you will regret later, but love never will.
Love is an upper. It makes you look up. It makes you think up. It makes you a better person.


(Author Unknown)

Sunday, March 1, 2009

Mắt Nhòa Đi Giữa Rừng Cờ Vàng

0 comments

Mắt Nhòa Đi Giữa Rừng Cờ Vàng

Màu cờ vàng ba sọc đỏ
thắm tươi tình đất Việt Nam
Như cha vẫn từng nhắn nhủ
Chết một lần hãy sống vinh quang

Ba miền quê cha đầy sóng gió
Huyết lệ Việt chảy tim màu sọc đỏ
Dương khí ngời gươm thiêng sáng tỏ
Quyết kiêu hùng ta chiến sĩ tự do

Miền đất hứa cờ xanh trắng đỏ
Đáy vực điêu tàn minh châu ngời sáng
Little Sàigòn thủ đô rực rỡ
Vì em dương cờ vàng ngạo nghễ hiên ngang

Bao bão giông một màu vàng bất khuất
Little Sàigòn em giữ kỷ nhé em
Máu kiêu hùng cha ông đã chảy
Phất hồn thiêng qua những đọa đầy

Ôi Little Sàigòn mắt nhòa lệ thấm
Việt Nam mãi trong ta một niềm kiêu hảnh
Đi giữa sắc màu trắng xanh đỏ thẩm
Còn có màu vàng lưu với sử xanh

Cát Biển
11/6/2008

Cờ vàng ba sọc đỏ
Cờ vàng ba sọc đỏ được dùng làm quốc kỳ cho Nước Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Ðại thành lập năm 1948. Lá cờ này cũng được tiếp tục dùng cho Nước Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Ðình Diệm thành lập ngày 26/10/1956.
Từ sau năm 1975, cờ vàng ba sọc đỏ vẫn tiếp tục tung bay tại các trại tị nạn ở Ðông Nam Á và tại những nơi định cư của người Việt chống chế độ cộng sản.
Cờ vàng ba sọc đỏ có mặt trong hầu hết các buổi sinh hoạt tập thể, có tính hội đoàn và cộng đồng, kể cả văn hoá, xã hội, tôn giáo, v.v. của người Việt ra đi từ miền Nam. Trong ba mươi năm qua, việc sử dụng cờ vàng ba sọc đỏ như một ngọn cờ tụ nghĩa và đấu tranh đã và đang đem lại nhiều kết quả tích cực, góp phần hóa giải những xung khắc trong cộng đồng người Việt và khiến cho cờ đỏ sao vàng hầu như không có chỗ đứng công khai và trước đám động tại hải ngoại.

Niềm Đam Mê Miệt Mài của Anh Bằng

0 comments

Niềm Đam Mê Miệt Mài của Anh Bằng

Cát Biển

Nhạc sĩ Anh Bằng đã không ngừng nghỉ trong lãnh vực sáng tác. Người chiến sĩ với nhiều kinh nghiệm chiến trường ấy vẫn không ngần ngại tiếp tục xông pha nơi trận tuyến. Ông rất am tường về khúc sông mà ông đang bơi lội, và vẫn miệt mài liên tục lặn hụp trong đó để khai phá, mang về những hải sản đặc biêt cho kho tàng văn hoá Việt Nam. Nhạc của Anh Bằng rất đa dạng từ tình ca, quê hương, xã hội, đến những bài nhạc phổ thơ rất trang trọng sâu sắc.

Chúng ta hãy nhớ lại bản nhạc đấu tranh sau đây của Anh Bằng sáng tác trong tác phẩm CD Lữa Bolsa khi ông cùng sánh vai với các tác giả Nhật Ngân và Trầm Tử Thiêng để đóng góp cho khí thế chung, lúc mà đồng bào Nam Cali đã tập hợp hơn 10 ngàn người tại Little Saigon tràn ngập lá cờ vàng biểu tình phản đối Trần Trường và biến thành một làn sóng lửa lan truyền sự nhất tâm tranh đấu đi khắp nơi tại Hoa Kỳ và thế giới:

Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Cho tình anh em Việt Nam đoàn kết
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên !
Xua ngàn tối tăm ra ngoài trái tim cùng một lời nguyền
Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Cho cờ vàng lên rực cao Tổ quốc
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên
Cho màu sáng thơm da vàng Việt Nam

Bàn tay anh, bàn tay em, bàn tay treo nắng trên đường phố
Bàn chân anh, bàn chân em, bàn chân ngăn bão táp phong ba
Cờ trong tay, đèn trong tay, lòng hăng say tiến lên ngày mới
Nối dây ân tình, nối lửa đấu tranh, nối lửa đấu tranh...
Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Soi đời người dân Việt Nam nghèo đói
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên !
Kiên cường đấu tranh cho ngày ấm no cho quyền làm người

Đốt đuốc lên ! Ta đốt đuốc lên !
Soi mặt từng tên Việt gian lạc hướng
Thắp nến lên ! Ta thắp nến lên !
Khơi lửa đấu tranh cho cả quê hương.
Anh Bằng (Nỗi lửa đấu tranh)

Qua các nhạc phẩm của ông chúng ta tìm gặp được một tâm hồn thiết tha bình dị với những lời tâm sự thân tình chảy mãi như con nước của một dòng sông. Nhạc của Anh Bằng đầy nét trìu mến thiết tha nhưng không có nét bi quan, than thở, mà có thể nói vươn lên trước hoàn cảnh.

Người ơi khi cố quên là khi lòng nhớ thêm
Dòng đời là chuỗi tiếc nhớ
Mơ vui là lúc ngàn đắng cay... xé tâm hồn
Tàn đêm tôi khóc khi trời mưa buồn hắt hiu
Lòng mình thầm nhớ dĩ vãng
Đau thương từ lúc vừa bước chân
Vào đường yêu
Đêm ấy mưa rơi nhiều
Giọt mưa tan tác mưa mùa ngâu
Tiễn chân người đi
Buồn che đôi mắt thấm ướt khi biệt ly
Nghe tim mình giá buốt
Hồi còi xé nát không gian
Xót thương vô vàn
Nhìn theo bóng tàu dần khuất trong màn êm
Mùa thu thương nhớ bao lần đi về có đôi
Mà người còn vắng bóng mãi
Hay duyên nồng thắm ngày ấy nay... đã phai rồi
Từ lâu tôi biết câu thời gian là thuốc tiên
Đời việc gì đến sẽ đến
Những ai bạc bẽo mình vẫn không... đành lòng quên
Anh Bằng (Sầu Lẻ Bóng)

Nói về nhạc của Anh Bằng, chúng ta không thể không bàn về những yếu tố tâm lý của những con người trưởng thành trong thời đại của ông nhất là sau biến cố chia đôi đất nước năm 1954. Những ngày ấy tôi còn thơ bé chưa hiểu gì về những ca từ mà lúc ấy có thể nói đã là một bước đi mới trong tân nhạc Việt Nam. Lời của những tình khúc của Anh Bằng rất gần gũỵi với tâm hồn bình dị không quá mỹ miều kỳ ảo mộng mơ như nhạc của Văn Cao chẳng hạn:

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên
Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần
Văn Cao (Thiên Thai)

hoặc mang nhiều hình ảnh sống động thương tâm của Phạm Duy

Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên luỹ tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta, đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ
Ngày trở về, trong bếp vui
Anh nói chuyện nghe: chuyện đời chiến sĩ
Sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê
Chiều lặn tà, anh bước ra
Vườn khuya sáng mờ, ruộng đất hoang vu
Luống nghẹn ngào, hẹn sớm tinh mơ anh về đồng lúa.
Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cày bừa
Vì thương yêu anh nên ngày trở về
Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ
Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ
Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về
Có anh thương binh sống đời hoà bình.
Phạm Duy (Ngày Trở Về)

Ca từ của Anh Bằng như lời tâm sự của một thanh niên mới lớn trước cảnh phân qua của đất nước và viễn tượng chinh chiến bùi ngùi:

Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa
Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian, tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng
Nay khóc tơ duyên lìa tan
Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ
Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi
trong bùi ngùi
Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi
Anh Bằng (Nỗi Niềm Người Đi)

Trong không khí khẩn trương của một Miền Bắc với những lời ca hừng hực căm hờn chiến đấu, nhắm vào quân thù mà bắn mà giết, với không khí ngột ngạt giáo điều từ những buổi đấu tố đánh tư bản, những màn chôn sống hoặc những cuộc thanh trừng đẫm máu...người ta tìm thấy không khí sáng tác Miền Nam vẫn đầy tính chất nhân bản như những lời nhạc của Lam Phương, Anh Bằng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Châu Kỳ v.v...Song song với những bài thơ bóng bẩy ấn tượng được phổ nhạc như Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ phổ nhạc bởi Phạm Đình Chương

Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu.
Mưa mù lên mấy vai gió mù lê mấy trời
Người đi qua đời tôi, hồn lưng miền rét mướt,
Vàng xưa đầy dấu chân, đen tối vùng lãng quên.
Bàn tay mềm khói sương, tiếng hát nào hơ nóng.
Và ai qua đời tôi, chiều âm vang ngàn sóng.
Trên lối về nghĩa trang ...
Nghe những lời linh hồn, nghe những lời linh hồn,
Trong mộ phần đen tối đen...
Phạm Đình Chương (Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ)

với lời lẽ có phần trừu tượng hơn, người ta đến với nhạc của Anh Bằng vì ngôn từ khá đơn giản và quen thuộc vì vậy mà dễ phổ cập trong số đông người nghe nhạc của Anh Bằng như những ca từ: ân ái, tơ duyên, mộng mơ v.v...

Anh Bằng có thể nói đến với âm nhạc một cách thuần tuý là ghi lại những âm hưởng rất người, rất nhân bản và bình dị ấy qua tâm tình của đại đa số thanh niên Việt. Âm nhạc của ông không mang một thông điệp triết lý quá cao siêu cho giới thưởng ngoạn đòi hỏi nhiều tư duy. Ông luôn bơi lội trong khúc sông mà ông đã rất quen thuộc. Và ông không ngừng nghỉ mang về từ khúc sông ấy những món ngon vật lạ. Anh Bằng không hề tạo thành một hiện tượng. Trong ca từ của ông chúng ta không thấy những đột phá như: Ru em hài nhung gấm, ru em gót sen hồng... Để một mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài...Đi lên non cao đi về biển rộng, đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng...Tình ta như núi rừng cúi đầu, nghe tiếng buồn rơi đều (Trịnh Công Sơn)
hay

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.
Tiễn em về xứ Mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Tuyết rơi mỏng manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng.
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.
Cung Trầm Tưởng (Tiễn Em)

Nhưng Anh Bằng luôn có một chỗ đứng đặc biệt trong nền âm nhạc Việt Nam và ông đã hoàn tất vai trò của ông một cách khá hoàn hảo trong phạm trù được ơn cao ban xuống cho phần đời của ông. Ta có thể nói Anh Bằng đã không ngừng nghỉ làm việc và vui chơi trong dòng nước ấy, và ông luôn miệt mài khai phá những cảm hứng, những rung động mới lạ trong vùng sông nước luân lưu đó.

Có những bản nhạc phổ thơ của các thi sĩ đã mang dòng nhạc của ông đi qua những vùng nước xoáy khác, như

Em là gái trong song cửa
Anh là mây bốn phương trời
Anh theo cánh gió chơi vơi
Em vẫn nằm trong nhung lụa
Em chỉ là em gái thôi
Người em sầu mộng của muôn đời
Tình em như tuyết giăng đầu núi
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ
Ai bảo em ngồi bên song
Cho vươn nợ thi nhân
Anh Bằng (Ai Bảo Em Là Giai Nhân Lời: Lưu Trọng Lư)

Hoặc

Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thuỵ ơi, và tình ơi !

Như loài chim bói cá
Trên cọc nhọn trăm năm
Tôi tìm đời đánh mất
Trong vũng nước cuộc đời
Thuỵ ơi, và tình ơi !

Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh rung
Vì sao chân không vững
Vì sao, và vì sao !

Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào
Cắt đứt cuộc tình đầu
Thuỵ bây giờ về đâu ?
Anh Bằng (Khúc Thuỵ Du, Lời: Du Tử Lê)

Hay là một hợp tác chung khá độc đáo với Lê Dinh và Minh Kỳ qua bút hiệu Lê Minh Bằng:

Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ
Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo
Ngày nó sống kiếp lang thang
Ngẩn ngơ như chim xa đàn
Nghĩ mình tủi thân muôn vàn

Mẹ nó ra đi khi còn tấm nhỏ
Một chén cơm chiều nhưng lòng chưa no
Cuộc sống đói rách bơ vơ
Hỏi ai ai cho nương nhờ
Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ

Đêm đêm nó ngủ một manh chiếu rách co ro
Một thân côi cút không nhà
Thân em lá cỏ bạn quen ai có đâu xa
Thằng tư con tám hôm qua trên phô lê la

Miền bắc điêu tàn nên đời nó khổ
Một chén cơm chiều nên lòng chưa no
Nhiều lúc nó khóc trong mơ
Mẹ ơi ! Con yêu mong chờ
Bao giờ cho đến bao giờ
Lê Minh Bằng (Nó)

Ngôn ngữ của Anh Bằng dĩ nhiên là có đầy tính lãng mạn và mộng mơ, nhưng không nằm trong ảnh hưởng đặc thù của nhạc tiền chiến. Ngày xưa lớn lên trong miền nam tôi cũng không ngờ Anh Bằng là người được sinh trưởng ở Hà Nội, vì tôi không bao giờ cảm thấy xa lạ với ngôn ngữ của ông. Ngôn từ của ông rất đồng điệu với mọi người miền nam bất kể trình độ nào. Ông là người chia sẻ các nỗi niềm tâm sự của ông đến khắp nơi như tiếng nói chung của một thế hệ mà trong giai đoạn đó vẫn còn rất lam lũ với cuộc sống, có nhiều người chưa có cơ hội đến trường học, một số đáng kể vẫn còn mù chữ. Ông đã nói lên được tiếng nói chung cho bao nhiêu người khác cùng mang các rung động chân thành ấy.

Thiết nghỉ để hiểu giá trị vị trí và tác động của dòng nhạc Anh Bằng vào văn hoá Việt Nam chúng ta cần nhìn lại các bối cảnh xã hội và tâm lý của một nước Việt trong giai đoạn chiến chinh binh lửa. Nhạc sĩ Anh Bằng đã đóng góp thiết thực lời ca tiếng hát từ tâm hồn ông cho đại đa số người Việt Nam còn đang vật lộn với cuộc sống khó khăn, cần người nói lên tiếng lòng của họ để chia sẻ phân trần những nỗi niềm tâm sự. Tôi kính phục và cảm tạ nơi nhạc sĩ Anh Bằng một điều ông đã đạt được với tính cách một nhạc sĩ sáng tạo. Đó là sự miệt mài khai phá trong niềm đam mê của chính ông. Nhạc sĩ Anh Bằng nói một cách khác đã phong phú hoá nền âm nhạc Việt từ buổi phôi thai, và ông không ngừng nghỉ ở vai trò tiên phong ấy, ông vẫn tiếp tục miệt mài vui chơi bơi lội nơi nhánh sông mà ông đã hiến trọn đời người để tìm tòi khám phá với những sáng tạo đa dạng mới lạ mang dấu ấn đặc thù của dòng nhạc Anh Bằng.

Cát Biển

Saturday, February 7, 2009

Một Người Mỹ Đáng Quý

0 comments

Một Người Mỹ Đáng Quý



Cát Biển

Trước khi đến Mỹ, phải thành thật nói, tôi còn rất kém cỏi về niềm vui của hiến tặng. Mà không riêng gì việc hiến tặng, tất cả những quan điểm về tôn trọng nữ giới, về bình đẳng đối với người đồng tính, về giá trị của cái đẹp và nhiều điều khác trong đời sống... cái nhìn trong tôi đều có thay đổi. Nước Mỹ nói chung và những người hàng ngày tiếp cận đã giúp tôi học hỏi được thêm về giá trị của cuộc sống.

Khi tôi mới vào nhận việc tại công ty chế tạo máy bay McDonnell Douglas (MD) ở Long Beach, công việc mới khác hẳn với việc tôi làm tại công ty Exxon Production Research (EPR) tại Houston TX trước đó. Tại EPR tôi là 1 kỹ sư designer, thiết kế các mạch điện tử và cả phần mềm điều khiển. Nhóm kỹ sư chúng tôi chế tạo các hệ thống máy thâu thập dữ kiện dò tìm dầu trong lòng đất. Sau đó, tôi được chỉ định hợp tác với Dr. Ken Avicola chú tâm vào các phát minh và ứng dụng mới của ngành fiber optics (dây dẫn quang). Vào năm 1985, kinh tế Houston bỗng xuống dốc. Tôi cố tìm xin việc làm bên Nam Cali và vui mừng được nhận vào hãng chế tạo máy bay McDonnell Douglas tại Long Beach.

Khi về nhận việc mới tại McDonnell Douglas, công việc tôi là làm system engineering chứ không còn là design engineer nữa. Tôi rất nhớ công việc tại EPR của kỹ sư thiết kế vì khi tạo ra 1 máy nào đó chạy ngon lành hoàn hảo thì hiển nhiên tác phẩm đó là đứa con của chính mình; mình thấy và sờ mó được nó. Làm system engineering thì vai trò không còn là 1 nhạc công trong ban nhạc nữa mà là 1 nhạc trưởng (conductor) điều khiển từ xa, chứ không là người nhạc sĩ bấm nốt. Khi hoàn tất, subsystems cũng do người khác làm (theo yêu cầu mình đặt ra) chứ không do chính tay mình chế tạo, nên tác phẩm trí tuệ của mình khi hoàn tất cũng trừu tượng chứ không hiển nhiên như của một kỹ sư thiết kế.

Ngày đầu tiên làm việc tôi được ông xếp Jim Shannon hướng dẫn về giờ giấc, phòng ốc, vật liệu supplies và một số chi tiết ghi tính giờ làm việc. Tôi còn đang bỡ ngỡ với cảnh mới, phòng ốc mới, thì có một người xếp của một nhóm kỹ sư kế bên ghé qua nơi chỗ tôi làm việc và tự giới thiệu: "Hi, my name is John Marcin...I guess you have just started here?" - John nở nụ cười thân mật... "Vâng, tôi tên Sơn, mới bắt đầu ngày hôm qua, ông xếp tôi là Jim Shannon" tôi đáp. "Oh...Vậy anh cũng làm nghiên cứu về fiber optics trong nhóm Jim Shannon như nhóm chúng tôi đang làm...tôi có mấy quyển sách mới khá tốt về fiber optics...ngày mai tôi sẽ mang đến tặng anh, hi vọng nó sẽ giúp anh phần nào..." John mở lời thân mật. "Tuyệt quá. Xin thành thật cám ơn ông trước nhé. Ông quá tốt đối với người mới như tôi!"

John có một dáng người dong dỏng cao hơn 6 feet và một thân hình hơi gầy. Với nét hiền từ đức độ và nụ cười thật tươi của ông, John có khá nhiều nếp nhăn nơi khuôn mặt. Ông luôn là một gentleman, ung dung, thanh nhã, lịch sự. Ngày hôm sau, trong sự mến mộ và biết ơn của tôi, John mang đến 2 quyển sách, có một quyển xuất bản bởi công ty Corning chuyên sản xuất dây cáp quang, gồm cả phần lý thuyết về quang học và các chỉ số danh từ kỹ thuật, rất hay và thực dụng mà tôi đang cần. Tôi thầm cám ơn John thật nhiều với tấm lòng tốt cho những ngày đầu làm việc tại MD. John cũng làm tôi thật nhớ ông Bob Stanley ở EPR. Ông ta cũng là 1 xếp của nhóm kỹ sư kế bên, cũng ghé sang phòng làm việc tôi chào hỏi ngày đầu tiên tôi nhận việc và tặng tôi các tài liệu kỹ thuật cùng với những lời han hỏi là giúp đỡ thật tận tình suốt 5 năm trời tôi làm việc ở đó. Hai người này đã dạy cho tôi 1 đức tính thật đẹp của người Mỹ mà tôi sau đó áp dụng, là chuẩn bị 1 số tài liệu và kiến thức hay, để giúp đỡ hiến tặng những người khác đang cần có các kiến thức đó. Tôi học hỏi được niềm vui của hiến tặng đó. Một tháng sau có hai kỹ sư mới vào làm việc tên Tom Todd và Todd Williams, tôi cũng đã để dành 4 quyển sách hay nhất đem tặng cho họ ngày họ mới vào làm việc trong nhóm. Do đó mối giao tình giữa tôi với Tom và Todd thành thân thiết ngay từ buổi đầu tiên.

Một lần nọ ông Lou Feiner, một người Senior Manager mà tôi rất thân quý, kính nể và tin cậy, tỏ lời khuyến khích chân tình rằng tôi nên "tự mình trau dồi kỹ năng cho đến đích". Lúc ấy tôi đang sử dụng program Excel rất mới mẻ. Nhờ vào lời khuyên đó của Lou tôi đã đầu tư nhiều tâm trí và sử dụng Excel rất thuần thục. Rồi trong một câu chuyện John khuyến khích tôi nên ghi danh dạy các courses Excel mà ông hi vọng tôi sẽ thích thú. Quả thật, nhờ lời khuyên đó tôi đã hăng hái ghi tên dạy học và trở thành một instructor các lớp sau giờ làm việc tại công ty về các khoá dạy Excel, Powerpoint, Access database. Mỗi môn học có 3 đẳng cấp: Introductory, Intermediate, và Advanced. Với tiền dạy học không tệ ($45/giờ), các courses này đã là động lực khiến tôi không ngừng nghỉ tự trao dồi kỹ năng thật sâu cho các phần mềm đó, vì các lớp học này luôn luôn có những câu hỏi thú vị và bất ngờ. Ngoài ra, vì đi học rồi đi dạy kèm gần như suốt cuộc đời không ngừng nghỉ qua 3 trường đại học tại Mỹ và nhiều khoá huấn luyện đủ thứ trong mấy nhiêu năm làm việc, tôi học hỏi và áp dụng được một số bí quyết của các vị giáo sư giỏi mà tôi ngưỡng mộ. Các lớp tôi dạy vì vậy luôn nhộn nhịp với các câu hỏi và trả lời kích động sự suy tư giữa thầy và trò. Ngoài ra tôi còn sưu tầm các jokes vui cười của Johnny Carson và Jay Leno để giúp bầu không khí trong lớp luôn nhẹ nhàng tươi vui. Các lớp học tại Mỹ luôn luôn có phần phê điểm của học viên phê bình thầy ở ngày cuối khoá học. Điểm của tôi được xếp vào tên các instructors được hạng điểm tốt nhất. Riêng mình thì được phần thưởng đặc biệt của người dạy học, là niềm sung sướng khó tả của sứ mạng hoàn thành phần nào công việc của một người "truyền kiến thức". Đó là niềm vui khi thấy những học viên bỡ ngỡ lọng cọng ngày đầu khi mới vào lớp, trở nên những người quen tay, thành thạo khi mãn lớp học. Nhiều học viên sau khi học xong liên tục áp dụng các kỹ năng đó và gọi điện thoại hỏi tôi mỗi khi gặp điều gì trở ngại.

Khi các kỹ sư nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật mới, một công việc rất quan trọng là thuyết trình các projects mình đang làm cho mọi người liên hệ khi khởi đầu, khi đạt được kết quả quan trọng, và khi hoàn tất. Vì các bài thuyết trình của tôi dễ hiểu và thể hiện rõ ràng các chi tiết quan trọng làm người nghe nhận bắt ngay các điểm then chốt, tôi được sự chấp nhận của các người cộng sự. Theo ngày tháng làm việc với MD tôi trở thành người bạn thân của Lou Feiner và John Marcin. Mỗi lần gặp gỡ ông Lou để bàn về kỹ thuật, chúng tôi luôn nảy sinh ra nhiều giải đáp kỹ thuật mới làm giảm chi phí hoặc tăng hiệu quả sản xuất cho công ty. Mỗi lần bàn luận với John, tôi luôn ghi nhận nơi ông một tâm hồn rất đẹp, rất vị tha với ước mơ bao la một công bằng cho xã hội.

Một dạo nọ, tôi và John Marcin cùng đi dự một conference (hội nghị) về fiber optics tại Salt Lake City, Utah. Người tham dự là các kỹ sư ngành hàng không nhiều thuộc quốc gia. Buổi trưa ngày cuối cùng kết thúc hội nghị, với tư cách là Chairman của Fiber Optic Broadband Committee thuộc SEA (Society of Automotive Engineers), tôi có nhiệm vụ đúc kết chương trình hội nghị và tổng kết các điểm chính cần phải làm để đẩy mạnh ngành fiber optics cho các kỹ sư của các công ty hội viên. Tôi nhớ lúc đó John bỗng đề nghị tôi kể thêm 1 chuyện vui. Thế là tôi cũng hứng chí kể luôn chuyện vui về người đàn bà comedian nổi tiếng Phyllis Diller. Bà này thường trình diễn các show tại Las Vegas với các chuyện tiếu lâm "người lớn", hầu như không loại tiếu lâm "mặn" nào mà bà ngại cả. Câu chuyện như thế này:

Ngày nọ bà Phyllis đi vacation bên Úc, không may trong lúc đi chơi bà vô ý ngã xuống làm cánh tay trái bị nứt xương phải băng bột. Có điều bà ta phải về Las Vegas để trình diễn 1 show comedy vào cuối tháng đó. Bà Phyllis gọi điện thoại tới một trong những writers thân tín của bà và nói: bạn hãy nghỉ cho tôi 1 chuyện thật vui với cánh tay gẫy này, bằng không tôi không thể nào xuất hiện tại Las Vegas với cánh tay băng bột như thế này cả. (Lưu ý, các tay khôi hài nổi tiếng như Bob Hope, Johnny Carson, Jay Leno, David Letterman v.v...đều có người viết lời khôi hài cho họ trình diễn, tương tự như những người chuyên viết diễn văn cho Tổng Thống).
Cuối tháng đó, bà Phyllis xuất hiện trước khán giả nhộn nhịp tại Las Vegas với cánh tay trái băng thạch cao và một đây đai treo từ cổ tay lên vai. Tay bên phải bà cầm một điếu thuốc lá gắn ống điếu thật dài, theo cung cách người đàn bà lão luyện. Bà mở đầu show hôm đó với một nụ cười duyên và nói:
"Trước khi khởi đầu chương trình thật vui và hấp dẫn của chúng ta ngày hôm nay, tôi có 1 điều quan trọng cần công bố với quần chúng...(khán giả bắt đầu mỉm cười và lắng nghe)
Chuyện là trang 154 của quyển sách The Joy Of Sex (tức quyển sách nổi tiếng về các kỹ thuật làm tình) có chỗ hình in bị sai vì lỗi typo...(khán giả bên dưới bắt đầu cười rúc rích)
Nếu các bạn áp dụng theo kiểu đó, cánh tay trái của bạn sẽ có thể bị đau hoặc gẫy tay...nhưng bù lại thì sẽ sướng không thể tả...(đến đây thì mọi người cười oà ra)"

Tôi kể nguyên câu chuyện này và được mọi người trong phòng họp thưởng cho một trận cười thoả thích, sau 3 hôm hội nghị bàn luận về các đề tài kỹ thuật khá khô khan. Ngày hôm sau trong lúc ngồi chờ máy bay tại phi trường Salt Lake, John bỗng hỏi tôi: "Nếu anh trúng số độc đắc có thật nhiều tiền, anh sẽ làm gì?" "John, có lẽ tôi sẽ dẹp hết mọi chuyện xin học thêm bằng Ph. D. ngành Điện, vì tôi còn thèm muốn học hỏi thêm thật nhiều. Thế còn ông thì sao?" "Tôi muốn ghi danh học Luật." "Ủa, sao lại là luật chứ" tôi ngạc nhiên, vì John đã có bằng Master về Điện tại trường nổi tiếng UC Berkeley. " Vì tôi muốn làm luật sư tình nguyện cho tổ chức American Civil Liberties Union (ACLU) nhằm bảo vệ quyền bình đẳng nhân quyền, tôn giáo và công bằng xã hội."

Kỷ niệm chuyến đi đó cho tôi hiểu và quý trọng thêm về bản tánh của John. Chúng tôi cùng làm việc nghiên cứu các kỹ thuật ứng dụng mới của dây "dẫn quang" (optical fiber) nhằm điều khiển máy bay bằng tia sáng thay vì dòng điện. John luôn được mọi người quý mến vì cách ăn nói hoà nhã từ tốn. Ông có một đức tính đặc biệt là luôn luôn có mặt ở sở đúng giờ và hầu như quanh năm không bao giờ khai bệnh. Giờ làm việc khởi đầu lúc 7 giờ sáng, John luôn luôn có mặt ở sở trước 6:45AM, người ta luôn thấy John đến sớm ngồi đọc báo trước khi bắt tay vào công việc sở. Những lần đi ăn trưa chung với các bạn đồng nghiệp tại các nhà hàng vùng Long Beach, John luôn luôn tính ra con số tiền tip chính xác là 15%, không hơn không kém. Ông đúng là một mẫu người mực thước. John có một cái nhìn rất thoáng về công việc và tôn trọng sự phát triển kỹ năng. Mỗi khi tôi muốn tham dự các hội nghị, hoặc ghi danh học các khoá huấn luyện về ngành kỹ thuật chúng tôi đang nghiên cứu, ông đều chuẩn phê một cách vui vẻ. Có dạo phong trào aerobics được bùng nổ khắp nơi, John chính là một trong những người đầu tiên ghi danh tập thể dục aerobics theo các điệu nhạc vào mỗi trưa trong giờ ăn lunch.

Một hôm tình cờ câu chuyện đưa đẩy, chúng tôi bàn lan qua chiến tranh Việt Nam, một đề tài tôi rất né tránh vì ít cảm thấy thoải mái bàn với nhiều người Mỹ. John nói: "Chính phủ Hoa Kỳ thật vô trách nhiệm khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam như thế..." "Ông có thể nói rõ hơn...vô trách nhiệm thế nào?" Tôi hỏi John. "Tôi hoàn toàn không đồng ý việc rút lui, vì chiến tranh cần phải giải quyết bằng chiến thắng. Làm như thế là không đầu không đuôi. Một quốc gia không thể nào nhảy vào một cuộc chiến, để rồi lại dùng giải pháp chính trị để rút lui. Hành xử như thế là hèn nhát và phản bội."

Khỏi phải nói, những lời nói đó của John làm cho tôi nghe thật mát dạ. Sự khác biệt giữa Lou Feiner và John Marcin, hai người mà tôi rất mực thương quý, là ở chỗ ông Lou rất vui nhộn và thực tế, còn ông John thì thầm trầm hơn. John cư xử thanh nhã, nhẹ nhàng với một tâm hồn thật rộng lượng mà tôi chưa từng gặp qua. Với Lou chúng tôi bàn mê say các ý tưởng kỹ thuật mới lạ cho công việc. Với John ông trân quý con người qua các nét đẹp về tinh thần. Mỗi lần đi ăn trưa chung với Lou hay với John, tôi đều có cảm giác thân thương gần gũi và quý trọng. John có một người con trẻ và đẹp trai. Cậu này đang làm việc bên nhóm máy bay MD-80, thỉnh thoảng ghé vào thăm ông ta. Hai người nói chuyện to nhỏ thật thân mật. John tâm sự với tôi ông có 2 cậu con trai cực kỳ thương yêu ông ta, và một bà vợ tuyệt vời hết mực thương chồng.

Nhưng dòng đời thì không bình lặng. Công ty McDonnell Douglas gặp nhiều khó khăn cạnh tranh với Boeing, càng nhiều khó khăn hơn khi các quốc gia Âu Châu hợp tác thành lập công ty Airbus chế tạo các máy bay mới bán với giá hạ (vì các quốc gia Âu Châu tài trợ để xâm nhập vào thị trường máy bay vốn do Mỹ nắm vững). Nội bộ công ty McDonnell Douglas trải qua nhiều sóng gió và thay đổi, nhằm giảm thiểu giá thành sản xuất máy bay. Hệ thống quản trị bị hoán đổi từ trên xuống dưới theo phong trào Total Quality Management khởi xướng khắp nơi. Đang từ là một ông xếp cao cấp với nhiều triển vọng tiến xa, Lou Feiner trở thành một Manager cấp thấp. Ông xếp tôi Jim Shannon thì đổi qua chương trình máy bay MD-80. John Marcin trở thành xếp của các chương trình nghiên cứu, gồm nhóm tôi và các kỹ sư khác. Tôi thiết kế và tự lắp ráp 1 hệ thống điều khiển dùng fiber optics trong phòng thí nghiệm. Các xếp lớn khác cũng ghé qua xem và quan sát tận mắt kỹ thuật điều khiển máy bay dùng tia sáng truyền qua các dây dẫn quang này, với nhiều triển vọng. John xin hẹn với ông xếp lớn, Jack McDonnell, đề nghị thăng cấp cho tôi vào cuối năm đó.

Bỗng dưng công ty lại có thêm nhiều biến cố. Công ty Airbus muốn cạnh tranh với Boeing nên có ý muốn mua công ty McDonnlell Douglas để tiến sâu vào thị trường hàng không và không gian Hoa Kỳ. Công ty Boeing bèn đi trước 1 nước, thoả thuận mua công ty McDonnell Douglas, để sát nhập cả các ngành quan trọng của hai công ty là Defense (vũ khí quốc phòng), Hàng Không (máy bay dân sự) và Không Gian (phi thuyền). Nội bộ công ty tôi lại thêm thay đổi, với đợt sáp nhập các phần ban và loại bỏ thêm một số chức vụ quản trị. Cuối năm 1998 Lou Feiner, Jim Shannon, John Marcin, Jack Hancock và một số các xếp khác chấp nhận "the golden handshake", tức là gói quyền lợi để về hưu non.
Tôi rất buồn và tiếc với sự ra đi này của những người mà tôi rất thân quý...Ngày làm tiệc potluck tổ chức mừng về hưu của các người này, bạn bè đồng nghiệp ai cũng thân mật đứng lên kể chuyện tếu, các kỷ niệm vui buồn với các người sắp nghỉ hưu. Đến phiên tôi, tôi nói đùa về John là: "Bây giờ mỗi buổi sáng John đều có thể dậy thật sớm, không phải để đi làm như chúng tôi nữa, mà để vẫy tay tiễn đưa các người vẫn còn phải đi làm. Thêm nữa, nếu so sánh chuyện các con ngựa đua, khi các con ngựa đua nổi tiếng không còn ra sân đua nữa thì chúng có một trọng trách cao cả hơn là...gầy giống cho các thế hệ kế tiếp...hi vọng John và Lou sẽ hoàn thành sứ mạng cao cả này" làm mọi người cười vui. Mọi người đều biết Lou có người vợ đẹp làm ngành địa ốc rất giỏi có thâu nhập còn cao hơn Lou. Sau này Lou cho tôi biết ông ta đầu tư thị trường chứng khoán năm đó lời gấp 2 lần mức lương của ông lúc còn làm việc. Lou dọn về nhà mới ở San Diego vui chơi đánh golf hằng ngày với nhóm bạn. Tôi quá bận công việc nên ít liên lạc với John.

Năm đó tôi không được thăng chức, vì ông xếp mới từ nhóm khác đổi qua không đề nghị ai thăng chức cả. Điều này không làm tôi buồn nhưng càng làm tôi nhớ Lou và John, nhất là những buổi ăn trưa thiếu vắng hai người này. Thay vào đó một niềm vui là tôi được 4 bằng phát minh về fiber optics do US Patent and Trademark Office cấp, và được công ty tưởng thưởng số tiền mặt đáng kể.

Có một lần tôi gọi điện thoại thăm hỏi John, ông cho biết là ông thường xuyên làm các bịch sandwich rồi lái xe đem tặng cho các người homeless mỗi buổi trưa. Số lượng các phần ăn này không nhiều và chỉ tốn ông khoảng $50 mỗi tháng. Nhưng John thấy vui làm được những điều nhỏ bé như thế.

Thế rồi một biến cố thật lạ lùng xảy đến. Sau ngày Lou và John về hưu được khoảng 9 tháng, một buổi trưa tôi nhận được điện thoại của Lou gọi vào sở, hốt hoảng nói với tôi rằng John Marcin đã chết. Memorial service (tang lễ) sẽ được cử hành vào tối thứ sáu, mong mỏi bạn bè cùng đến tham dự. Tôi thật bàng hoàng giống như Lou, người đưa tin, không biết lý do gì John đã chết.

Tối thứ Sáu hôm đó người dự đám tang của John đông kinh khủng. Thật nhiều đồng nghiệp cũ của công ty McDonnell Douglas có mặt. Ai cũng không tiếc lời thương nhớ John, một con người thành thật, cao quý và đức độ. Jennifer, người vợ của John mà tôi đã gặp mặt hôm làm potluck tiệc về hưu, đến bắt tay tôi thật thân tình và khóc nức nở với tôi. Tôi hỏi lý do gì John đã chết nhưng bà không trả lời câu hỏi của tôi mà chỉ khóc ràn rụa với lời nói "Oh my god...I miss and love him so much..." Dự đám tang về tôi vẫn ngỡ ngàng không biết lý do gì đưa đến cái chết của John. Thật là kỳ lạ. Hai cậu con trai khóc và buồn thảm thương. Ngày hôm sau tôi lại nhận được điện thoại của Jennifer gọi vào sở, bà ta khóc nức nở nói...vì John thường đi ăn trưa với tôi, nên nói chuyện với tôi bà cũng có cảm tưởng đang nói chuyện với John...tôi hỏi thăm lý do nào đưa đến cái chết của John...bà nói: "chúng tôi vừa đi du lịch tàu thuỷ (cruise trip) thật vui, ghé qua chơi New York và Las Vegas thật tuyệt vời...rồi chỉ vì một chuyện gây gổ nho nhỏ không ra gì, ông ta bỏ đi ra garage. Tôi chờ lâu quá không thấy ông về phòng, đi ra garage tìm thì thấy John đã treo cổ tự tử"...nói đến đó bà khóc nức nở qua giây điện thoại và lập lại..."I miss him so much, I just miss him so much..." Tôi thật sững sờ và bàng hoàng nguyên ngày hôm đó...

Ba tháng liên tục sau đó trong thương nhớ, tôi cứ nằm mơ thấy John hiện về. Cũng với dáng dong dỏng cao, cặp mắt sáng ngời, và nụ cười tươi đáng mến. Tôi cố gắng ráp nối những gì mình biết để trả lời tại sao một người luôn luôn quý trọng sự sống, chăm sóc bản thân và có nếp sống rất ư mực thước như ông lại có thể dễ dàng đi tìm cái chết chỉ vì một cãi vã cỏn con với người vợ mà ông rất mực yêu quý? Cuối cùng tôi đoán, có lẽ sau bao nhiêu năm trường quá quen với nếp sống mực thước của một tư chức, ông ta bị hụt hẫng với những tháng ngày về hưu nhàm chán chăng? Để rồi rơi vào chứng trầm cảm (depression) nào đó...rồi một ngày chỉ vì một cãi vã tầm thường John cảm thấy không còn tha thiết cuộc sống nữa? Có lẽ tôi sẽ không bao giờ biết đích thật những gì đã khiến John tìm đến cái chết như vậy...

Có người nói "khi ra đi chúng ta không mang theo được gì cả, ngoại trừ những gì mình đã hiến tặng khi còn sống." John đã làm gương cho tôi về sự hiến tặng, và một cái nhìn rộng rãi về ý nghĩa cuộc đời. John đã dạy tôi cái đẹp của con người nước Mỹ, và cho tôi niềm tự hào: tôi là một công dân Mỹ.

Cát Biển

Visitors Count

SEO Services

About Me

My email: sn68pbc@yahoo.com -- My Homepage: www.catbien.com